2 tháng 9, 2026

NGƯỜI ĐÀN ÔNG DƯỚI HỒ - Arnaldur Indriðason

(Hình được Gemini chỉnh sửa từ bìa gốc sách để minh họa cho truyện dịch)

NGƯỜI ĐÀN ÔNG DƯỚI HỒ 

Tác giả : Arnaldur Indriðason
Việt Đường biên dịch, với sự trợ giúp của AI

Các vụ án của Erlendur Sveinsson - tập 9 trong 15 tập

Tóm tắt

Giải Tiểu thuyết Trinh thám Âu Châu của Le Point, 2008
Giải Barry 2009 - Tiểu thuyết hay nhất ở hạng mục Thriller
Kleifarvatn (2004) - Người đàn ông dưới hồ

Tháng Sáu năm 2000, một trận động đất làm thay đổi mực nước hồ Kleifarvatn, để lộ một bộ xương bị buộc vào một máy phát vô tuyến dùng làm vật nặng. Trên chiếc máy phát vẫn còn những hàng chữ Cyrillic đã mờ đi một nửa.

Thanh tra Erlendur và các đồng sự bắt đầu chú ý đến những vụ mất tích chưa được giải quyết từ thập niên 1960. Cuộc điều tra đưa họ tới các tòa đại sứ của những quốc gia thuộc khối cộng sản cũ, cũng như những sinh viên Iceland thuộc phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa từng được cấp học bổng sang Đông Đức trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Tất cả những người trẻ ấy đều trở về từ "đất nước anh em" trong tình trạng suy sụp, sau khi khám phá ra sự phi lý của một chế độ, nhân danh hạnh phúc của nhân dân nhưng lại cho rằng cần phải luôn luôn giám sát họ.

Bị cuốn hút bởi một manh mối khá đặc biệt - một chiếc Ford Falcon đời những năm 1960 - Erlendur nhất quyết lần theo dấu vết người đàn ông dưới hồ, cho đến khi khám phá ra bí mật khủng khiếp của ông ta.

Indriðason kể lại một chuyện tình tuyệt đẹp bị vùi dập bởi những khắc nghiệt của lịch sử, nhưng không hề sa vào bi lụy. Lối viết chừng mực của ông càng khiến bi kịch ấy thêm phần day dứt.


CHƯƠNG 1

Cô đứng bất động hồi lâu, nhìn những phần xương như thể chúng không nên có mặt ở đó. Chính cô cũng vậy.

Cô tự nhủ có lẽ lại là một con cừu chết đuối, cho đến khi tiến lại đủ gần để nhận ra một chiếc sọ người vùi một nửa dưới đáy hồ, cùng hình hài một bộ xương người. Những chiếc xương sườn nhô lên khỏi cát, và bên dưới, có thể thấy đường nét của xương chậu và xương đùi. Bộ xương nằm nghiêng về bên trái. Cô nhìn thấy phần bên phải của chiếc sọ, hai hốc mắt trống rỗng cùng ba chiếc răng ở hàm trên. Một chiếc có một miếng trám bạc lớn. Một lỗ thủng khá rộng hiện rõ trên hộp sọ, và cô bất giác nghĩ rằng lỗ ấy do một chiếc búa gây ra. Cô cúi xuống xem xét chiếc sọ. Ngập ngừng, cô đưa một ngón tay vào trong lỗ thủng. Bên trong đầy cát.

Cô không hiểu vì sao mình lại nghĩ đến chuyện ấy, nhưng ý nghĩ rằng có người từng bị đánh vào đầu bằng một dụng cụ như thế khiến cô thấy ghê rợn. Vả lại, cái lỗ còn lớn hơn vết mà một chiếc búa có thể gây ra. Nó lớn cỡ một hộp diêm. Cô quyết định không đụng tới bộ xương nữa. Cô lấy điện thoại di động ra và bấm số gồm ba chữ số.

Cô tự hỏi mình sẽ nói gì. Tất cả chuyện này, bằng một cách nào đó, đối với cô thật quá đỗi không thật. Một bộ xương, cách bờ hồ một khoảng xa như thế, vùi dưới lớp cát ở đáy hồ. Vả lại, cô cũng chẳng được khỏe lắm. Đầu óc cô cứ quanh quẩn với những chiếc búa và những hộp diêm. Cô khó tập trung. Ý nghĩ chạy tán loạn khắp nơi, cô phải hết sức khó nhọc mới gom chúng lại được.

Có lẽ tại cô còn say rượu. Cô đã định ở nhà suốt ngày hôm ấy, nhưng rồi đổi ý và ra hồ. Cô tin chắc mình phải đi lấy số đo. Cô là một nhà khoa học. Từ lâu cô vẫn mong muốn trở thành nhà khoa học, và biết rằng những số đo cần phải được theo dõi thường xuyên. Nhưng cô đang bị một trận say rượu khá nặng, đầu óc chẳng còn mạch lạc gì. Buổi tiệc thường niên của Công ty Phân phối Năng lượng đã diễn ra tối hôm trước và, như đôi khi vẫn xảy ra, cô đã uống quá chén.

Cô nghĩ đến người đàn ông đang nằm trên giường ở nhà mình. Chính vì hắn mà cô đã ra hồ đi một vòng. Cô không muốn thức dậy bên cạnh hắn và hy vọng khi cô trở về, hắn đã đi mất. Cuối buổi tiệc, hắn đưa cô về nhà nhưng chẳng tỏ ra có gì hấp dẫn. Cũng chẳng hơn gì những người đàn ông khác cô đã gặp từ ngày ly dị. Hắn hầu như không nói chuyện gì khác ngoài bộ sưu tập đĩa nhạc của mình, và còn tiếp tục lải nhải về chuyện ấy rất lâu sau khi cô đã thôi giả vờ quan tâm. Cuối cùng, cô ngủ thiếp đi trên chiếc ghế bành trong phòng khách. Khi tỉnh dậy, cô thấy hắn đã lên giường mình, nằm ngủ với miệng há ra, mặc một chiếc quần lót nhỏ xíu đến nực cười và đôi vớ đen.

- Trung tâm cấp cứu đây - một giọng nói đáp qua điện thoại.

- Vâng, tôi gọi để báo có một bộ xương được tìm thấy. Một chiếc sọ bị thủng.

Cô nhăn mặt. Khốn kiếp cái cơn say này! Ai đời lại nói một câu như thế? "Một chiếc sọ bị thủng." Cô chợt nhớ đến câu "một đồng mười aurar¹ có lỗ". Hay là đồng hai curon mới có lỗ?

- Xin cho biết tên của chị? - giọng người trực tổng đài hỏi, đều đều, không chút cảm xúc.

Cô cố gắng sắp xếp lại ý nghĩ rồi cho biết tên mình.

- Chị tìm thấy nó ở đâu?

- Trong hồ Kleifarvatn, gần bờ phía bắc.

- Nó mắc vào lưới của chị phải không?

- Không, nó nằm vùi dưới đáy hồ.

- Chị đang lặn à?

- Không, bộ xương đã lộ ra dưới đáy hồ. Có thể nhìn thấy xương sườn và chiếc sọ.

- Vậy là nó ở dưới đáy hồ?

- Vâng.

- Thế thì làm sao chị nhìn thấy được?

- Nó ở ngay trước mặt tôi, tại chỗ tôi đang đứng.

- Chị đã đưa nó lên bờ chưa?

- Chưa, tôi không đụng tới nó - cô nói dối gần như không cần suy nghĩ.

Đầu dây bên kia im lặng một lúc.

- Chị nói cái gì kỳ vậy? - cuối cùng giọng nói kia gằn lên. - Chị đùa đấy à? Chị có biết một trò đùa như thế có thể làm chị tốn bao nhiêu tiền không?

- Đây không phải chuyện đùa. Tôi đang ở trong hồ và nó nằm ngay trước mắt tôi.

- Chẳng lẽ chị lại bảo tôi là chị đang đi trên mặt nước?!

- Nước rút rồi - cô giải thích. - Không phải rút hết, nhưng chỗ tôi đang đứng không còn nước nữa. Chỉ còn đáy hồ khô cạn, và bộ xương nằm ngay đó.

- Sao lại nước rút?

- Không phải rút hết, nhưng nước đã rút khỏi chỗ tôi đang đứng. Tôi là chuyên viên thủy văn của Công ty Phân phối Năng lượng. Tôi đang đo mực nước hồ thì tình cờ gặp bộ xương này. Trên hộp sọ có một lỗ thủng, và nó gần như bị vùi hoàn toàn trong lớp cát dưới đáy. Lúc đầu tôi tưởng đó là một con cừu.

- Một con cừu?

- Hôm trước người ta cũng tìm thấy một con. Nó chết đuối từ lâu rồi, hồi mực nước hồ còn cao hơn.

Đầu dây bên kia lại im lặng.

- Chị cứ ở đó chờ chúng tôi - giọng nói kia bảo, có vẻ miễn cưỡng. - Tôi cho xe đến.

Cô đứng yên bên bộ xương một lúc, rồi đi về phía mép nước để ước lượng khoảng cách. Cô chắc chắn những phần xương này vẫn còn chìm dưới nước khi hai tuần trước cô đến đo đạc cũng tại chỗ này. Nếu không, hẳn cô đã nhìn thấy chúng. Khi ấy mực nước hồ mới chỉ hạ một mét.

Bí ẩn ấy vẫn chưa có lời giải, kể từ khi các kỹ sư của Công ty Phân phối Năng lượng nhận thấy mực nước hồ Kleifarvatn đang hạ xuống rất nhanh. Công ty đã lắp một thiết bị để thường xuyên đo mực nước, và một trong những công việc của các chuyên viên thủy văn là ghi lại những số đo ấy. Suốt mùa hè năm 2000, người ta có thể tưởng rằng thiết bị đã bị hư. Mỗi ngày dường như có một lượng nước khổng lồ biến mất, gấp đôi mức bình thường.

Cô quay lại chỗ bộ xương. Cô rất muốn xem xét nó kỹ hơn, gỡ nó khỏi cát và làm sạch cát bám trên đó. Nhưng cô nghĩ cảnh sát sẽ không thích cô làm như vậy. Cô tự hỏi đây là bộ xương của một người đàn ông hay đàn bà, và nhớ mang máng đã đọc ở đâu đó, có lẽ trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám, rằng hầu như không có sự khác biệt giữa bộ xương đàn ông và đàn bà, ngoại trừ xương cùng, thuộc phần xương chậu. Cô cũng nhớ có người từng bảo rằng không nên tin những gì đọc được trong các tiểu thuyết trinh thám. Cô không nhìn thấy xương cùng vì nó còn vùi trong cát, và tự nhủ rằng dù sao cô cũng chẳng biết cách phân biệt.

Cơn say rượu khiến cô càng lúc càng thấy nặng nề. Cô quyết định ngồi xuống cát bên cạnh bộ xương. Đó là sáng Chủ nhật, một chiếc xe đơn độc chạy dọc theo hồ. Cô đoán đó là một trong những gia đình đang đi chơi ngày Chủ nhật, tới vịnh Herdisarvik và Selvog. Đó là một cung đường được nhiều người ưa thích, phong cảnh hùng vĩ, chạy qua những cánh đồng dung nham, những ngọn đồi, men theo nhiều hồ khác nhau trước khi xuống tới biển. Cô ngẫm nghĩ về những gia đình trong những chiếc xe ấy. Chồng cô đã bỏ cô khi rõ ràng là họ không thể có con với nhau. Anh ta nhanh chóng tái hôn và giờ đã có hai đứa con kháu khỉnh. Anh ta đã tìm được hạnh phúc.

Còn cô, tất cả những gì cô tìm được chỉ là một người đàn ông mà cô hầu như chưa quen biết, lúc này đang nằm trên giường nhà mình, vẫn mang vớ.

Càng ngày cô càng khó tìm được một người đàn ông bình thường. Phần lớn bọn họ cũng đã ly dị như cô, hoặc, tệ hơn nữa, chưa bao giờ có một mối quan hệ lâu dài.

¹ Aurar, số ít là eyrir, là đơn vị nhỏ nhất của đồng króna, tức đồng tiền Iceland, bằng một phần trăm króna. (Mọi chú thích đều của người dịch.)

Cô buồn bã nhìn những phần xương còn vùi một nửa trong cát, cảm thấy nước mắt chực trào.

Khoảng một giờ sau, một chiếc xe cảnh sát từ Hafnarfjördur tới. Chiếc xe chẳng có vẻ gì vội vã, lững thững chạy dọc con đường dẫn tới hồ. Đang là tháng Năm, mặt trời lên cao, phản chiếu trên mặt nước phẳng lặng. Ngồi trên cát, cô dõi mắt theo con đường và vẫy tay khi chiếc xe đã tới bờ. Hai viên cảnh sát bước xuống, liếc về phía cô rồi đi tới.

Họ đứng im lặng hồi lâu bên trên bộ xương, cho đến khi một người khẽ đá vào một chiếc xương sườn.

- Anh nghĩ ông ta ra đây câu cá à? - anh ta hỏi người đồng nghiệp.

- Hay đi thuyền ra đây? - người kia đáp.

- Hay có khi ông ta đã đi bộ dưới hồ ra tận đây?

- Có một cái lỗ - cô nói, nhìn lần lượt hai người. - Trên hộp sọ.

Một người cúi xuống.

- Thật à? - anh ta hỏi.

- Có thể ông ta ngã khỏi thuyền rồi đập vỡ hộp sọ - người đồng nghiệp nhận xét.

- Nó đầy cát - người vừa lên tiếng lúc nãy nhận xét.

- Hay là gọi bên Khoa học Hình sự? - người kia trầm ngâm đề nghị.

- Chẳng phải họ đều đang ở Mỹ sao? Dự một hội nghị về tội phạm học ấy? - người đồng nghiệp đáp.

Người cảnh sát kia gật đầu. Rồi cả hai lại đứng hồi lâu, im lặng xem xét bộ xương, trước khi quay sang người phụ nữ.

- Nước đã đi đâu hết nhỉ? - một người hỏi.

- Trong chuyện này có nhiều giả thuyết - cô đáp. - Vậy các anh sẽ làm gì? Tôi có thể về nhà được chưa?

Hai người đàn ông nhìn nhau, ghi lại tên cô rồi cảm ơn, chẳng một lời xin lỗi vì đã để cô phải chờ. Cô cũng chẳng bận tâm. Cô không vội. Đó là một ngày đẹp trời bên hồ, và có lẽ cô còn tận hưởng cơn say rượu của mình hơn nếu không tình cờ gặp những phần xương này. Cô tự hỏi người đàn ông mang đôi vớ đen đã rời khỏi nhà mình chưa, và từ tận đáy lòng, cô mong là hắn đã đi. Cô nóng lòng chờ đến tối để thuê một cuốn băng video, rồi chui vào chăn nằm xem ti-vi.

Cô cúi xuống nhìn những phần xương và cái lỗ trên hộp sọ.

Có lẽ cô sẽ thuê một bộ phim trinh thám hay.


CHƯƠNG 2

Hai viên cảnh sát báo cho cấp trên ở Hafnarfjördur biết về việc phát hiện những bộ hài cốt trong hồ. Họ phải mất một lúc mới giải thích được làm thế nào những bộ xương ấy vừa nằm giữa hồ, vừa có thể tiếp cận bằng đường bộ mà không cần lội nước. Cấp trên của họ gọi cho cảnh sát trưởng để báo tin và hỏi xem ông có muốn trực tiếp tiếp quản vụ này hay không.

- Đây là việc của bên nhận dạng, - cảnh sát trưởng đáp. - Tôi nghĩ tôi biết người thích hợp.

- Ai vậy?

- Chúng tôi đã buộc anh ta phải nghỉ phép. Hình như chúng tôi còn nợ anh ta tới năm năm phép, nhưng tôi chắc anh ta sẽ rất vui nếu có việc để làm. Anh ta quan tâm đến những vụ mất tích. Với lại, anh ta rất thích đào bới.

Cảnh sát trưởng quốc gia chào đồng nghiệp ở Hafnarfjördur, nhấc điện thoại lên và yêu cầu liên lạc với Erlendur Sveinsson, bảo ông đến hồ Kleifarvatn cùng một nhóm nhỏ cảnh sát hình sự.

Erlendur đang mải đọc sách thì điện thoại reo. Như thường lệ, ông tìm cách tránh ánh nắng tháng Năm. Những tấm rèm dày đã được kéo kín trước cửa sổ phòng khách; ông cũng đóng cửa bếp, nơi chẳng có tấm rèm nào cho ra hồn. Nhờ vậy, ông có thể giữ cho căn phòng đủ tối để bật ngọn đèn đặt bên cạnh chiếc ghế bành.

Erlendur biết câu chuyện này. Ông đã đọc nó không biết bao nhiêu lần. Đó là câu chuyện về chuyến đi của một nhóm người đàn ông vào mùa thu năm 1868, theo nhánh phía nam của đường Fjallbak, trên sườn phía bắc sông băng Myrdalsjökull. Họ khởi hành từ Skaftartunga, định tới Gardur để ra biển. Một cậu bé mười bảy tuổi tên David cũng đi cùng họ.

Những người đàn ông ấy vốn quen đi lại, thông thạo các con đường trên vùng cao nguyên. Thế nhưng chẳng bao lâu sau khi lên đường, thời tiết nổi cơn dữ dội và họ không bao giờ trở về nữa. Người ta tổ chức một cuộc tìm kiếm quy mô lớn nhưng không tìm thấy một dấu vết nào. Mãi mười năm sau, hài cốt của họ mới tình cờ được phát hiện trên một bãi cát phía nam Kaldaklof. Họ đã nằm xuống dưới một tấm chăn, chen chúc bên nhau.

Erlendur ngước mắt nhìn vào bóng tối và hình dung cậu thiếu niên mười bảy tuổi, bị nỗi sợ hãi và lo âu giày vò. Dường như cậu đã linh cảm được chuyện gì sắp xảy ra trước khi lên đường; người dân trong vùng thấy lạ khi cậu đem đồ chơi chia cho các anh chị em, bảo rằng mình sẽ không còn gặp lại họ nữa.

Erlendur đặt cuốn sách xuống, đứng dậy một cách khó nhọc rồi nhấc điện thoại. Là Elinborg.

- Thế anh có đến không? - cô hỏi ngay.

- Tôi có được lựa chọn sao? - Erlendur đáp.

Elinborg đã chuẩn bị một cuốn sách nấu ăn từ lâu và cuối cùng nó cũng sắp được xuất bản.

- Lạy Chúa, tôi căng thẳng quá. Anh nghĩ độc giả sẽ đón nhận nó thế nào?

- Hiện giờ tôi còn chẳng biết dùng lò vi sóng, - Erlendur đáp, - cho nên có lẽ tôi không phải người thích hợp để...

- Nhà xuất bản của tôi thích nó lắm, - Elinborg tiếp tục. - Những bức ảnh món ăn cũng tuyệt đẹp. Họ thuê cả một nhiếp ảnh gia chuyên chụp loại này. Với lại còn có hẳn một chương về các món ăn Giáng sinh...

- Elinborg.

- Gì?

- Cô gọi tôi vì có chuyện gì đặc biệt phải không?

- Dạ, chuyện bộ xương ở Kleifarvatn, - Elinborg nói, hạ giọng khi câu chuyện chuyển sang một vấn đề khác ngoài cuốn sách nấu ăn của cô. - Hồ hạ xuống hay gì đó, tôi cũng không rõ, và sáng nay người ta phát hiện những bộ xương ở đó. Họ muốn anh đến xem qua.

- Hồ hạ xuống?

- Dạ, tôi cũng không hiểu rõ lắm.

Sigurdur Oli đang đứng cạnh bộ xương khi Erlendur và Elinborg đến hồ. Người ta đang chờ một đội Khoa học Hình sự do cảnh sát quốc gia điều tới. Hai viên cảnh sát Hafnarfjördur đang loay hoay với một dải băng màu vàng. Họ muốn dùng nó để khoanh vùng hiện trường nhưng chẳng tìm được chỗ nào để buộc nó. Sigurdur Oli đứng nhìn họ xoay xở, đồng thời cố nhớ lại một câu chuyện cười về dân Hafnarfjördur, nhưng chẳng tài nào nhớ ra.

- Anh không phải đang nghỉ phép à? - anh hỏi Erlendur khi thấy Erlendur bước trên cát về phía mình.

- Có chứ, - Erlendur đáp. - Còn bên anh có gì mới không?

- Toàn chuyện cũ, - Sigurdur Oli đáp.

Anh ngước mắt nhìn con đường, nơi một chiếc xe jeep lớn của kênh truyền hình thứ hai đang đậu.

- Họ bảo người phụ nữ phát hiện bộ xương có thể về nhà rồi, - Sigurdur Oli nói thêm, hất đầu về phía hai viên cảnh sát Hafnarfjördur. - Cô ấy đến đây để lấy số liệu. Nếu muốn biết tại sao hồ biến mất, sau này chúng ta có thể hỏi cô ấy. Nếu mọi chuyện vẫn bình thường thì giờ này chúng ta đang lặn dưới nước.

- Vai anh đỡ chưa?

- Rồi. Còn Eva Lind thế nào?

- Cho đến giờ vẫn chưa bỏ nhà đi, - Erlendur đáp. - Tôi nghĩ nó hối hận về chuyện đã làm với anh, nhưng biết thế nào được?

Ông quỳ xuống xem xét phần bộ xương đang lộ ra. Ông đưa ngón tay vào lỗ thủng trên hộp sọ rồi vuốt một chiếc xương sườn.

- Ông ta bị đánh vào đầu, - ông nhận xét khi đứng dậy.

- Đúng là một chân lý hiển nhiên, - Elinborg mỉa mai. - Dĩ nhiên, với điều kiện đó thực sự là một "ông ta", cô nói thêm.

- Trông có vẻ như đã xảy ra một cuộc ẩu đả, các anh không nghĩ vậy sao? - Sigurdur Oli hỏi. - Cái lỗ nằm ngay phía sau thái dương bên phải. Có khi chỉ một cú là đủ.

- Cũng có thể ông ta đã đi thuyền tới đây rồi ngã xuống nước, - Erlendur nói, nhìn Elinborg. - Này, Elinborg, cái giọng mỉa mai ấy cô cũng đưa vào sách nấu ăn à?

- Những mẩu xương hiển nhiên đã bị nước cuốn đi từ lâu, - Elinborg nói, không trả lời câu hỏi của ông.

- Chúng ta sẽ phải lấy bộ xương lên, - Sigurdur Oli nói. - Bên Khoa học Hình sự bao giờ tới?

Erlendur nhận thấy có thêm những chiếc xe đỗ bên lề đường và đoán rằng tin về việc phát hiện bộ xương đã lan khắp các hãng thông tấn.

- Họ không nên dựng một cái lều sao? - ông nhận xét, nhìn về phía con đường.

- Có chứ, chắc họ sẽ mang một cái tới, - Sigurdur Oli đáp.

- Anh nghĩ ông ta chỉ có một mình và đang câu cá trong hồ à? - Elinborg hỏi.

- Không, đó chỉ là một khả năng, - Erlendur đáp.

- Nhưng nếu có người đánh ông ta thì sao?

- Chúng ta hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra, - Erlendur nói. - Có thể ông ta bị đánh. Có thể ông ta ở trên hồ với một người khác và họ đang câu cá cùng nhau, cho đến lúc người kia rút một chiếc búa ra. Có thể chỉ có hai người. Cũng có thể là năm.

- Hoặc giả, - Sigurdur Oli dè dặt đưa ra một khả năng, - có người đánh vào đầu ông ta trong thành phố, rồi đưa xác ông ta tới đây để nhấn chìm xuống đáy hồ.

- Làm thế nào họ khiến cái xác chìm xuống được? - Elinborg phản bác. - Phải có thứ gì đó giữ một cái xác lớn như thế nằm dưới đáy nước chứ.

- Đó là người trưởng thành à? - Sigurdur Oli hỏi.

- Bảo họ đứng cách ra một chút, - Erlendur nói. Ông nhìn đám nhà báo đang từ mép đường đi xuống đáy hồ đã khô cạn.

Một chiếc máy bay nhỏ từ Reykjavik đang tiến lại gần rồi bay là là trên mặt hồ. Họ nhìn thấy một người đàn ông cầm máy quay trên đó.

Sigurdur Oli đi về phía đám nhà báo. Erlendur đi xuống mép nước. Những con sóng lười biếng liếm vào bãi cát. Erlendur nhìn ánh mặt trời cuối buổi chiều phản chiếu trên mặt hồ, tự hỏi về hiện tượng này.

Phải chăng hồ hạ xuống như vậy là do hoạt động của con người, hay đó là công việc của tự nhiên?

Dường như chính cái hồ đã muốn phơi bày tội ác này. Chẳng lẽ dưới những tầng nước tĩnh lặng, im lìm và tối tăm kia, nó không còn cất giấu những chuyện xấu xa nào khác?

Ông liếc về phía con đường. Các nhân viên Khoa học Hình sự, mặc những bộ đồ trắng, đang bước nhanh trên cát về phía ông. Họ mang theo một chiếc lều và những túi đựng đầy bí mật.

Ông ngước nhìn bầu trời và cảm nhận hơi ấm của mặt trời trên khuôn mặt.

Biết đâu chính mặt trời đang làm hồ cạn đi.

Điều đầu tiên các nhân viên Khoa học Hình sự phát hiện khi bắt đầu gạt cát khỏi bộ xương bằng những chiếc xẻng nhỏ và những chiếc chổi lông mảnh là một sợi dây thừng luồn giữa các xương sườn, vòng ra phía sau cột sống rồi biến mất dưới lớp cát.

Nữ chuyên viên thủy văn tên Sunna. Cô đang nằm thoải mái dưới một tấm chăn trên ghế sofa, sau khi đã cho cuốn băng vào máy: một bộ phim trinh thám Mỹ có tựa đề Hài Cốt. Người đàn ông mang đôi vớ đen đã đi khỏi. Hắn để lại hai số điện thoại, và cô đã cho chúng biến mất trong bồn cầu.

Bộ phim vừa bắt đầu thì cô nghe tiếng chuông cửa.

Cô nghĩ mình sẽ giả vờ như không có nhà. Lúc nào cô cũng bị làm phiền. Nếu không phải những người chào hàng qua điện thoại thì cũng là những người bán cá khô đến gõ cửa, hoặc bọn trẻ con đi thu gom vỏ chai nước ngọt rồi nói dối rằng chúng làm việc đó để quyên góp cho Hội Chữ thập đỏ.

Chuông cửa lại reo.

Cô vẫn còn lưỡng lự. Rồi cô thở dài, hất tấm chăn ra.

Mở cửa, cô thấy hai người đàn ông đứng trước mặt. Một người trông khá buồn bã, vai rũ xuống, trên gương mặt là một vẻ u sầu kỳ lạ; ông ta khoảng ngoài năm mươi. Người kia trẻ hơn, vẻ ngoài rõ ràng dễ mến hơn và, phải nói thật, khá đẹp trai.

Erlendur nhìn thấy cô đang nhìn Sigurdur Oli say đắm và không nhịn được cười.

- Chúng tôi đến gặp cô về chuyện hồ Kleifarvatn, - ông nói.

Khi cả ba đã ngồi trong phòng khách, Sunna kể cho họ nghe những gì cô và các đồng nghiệp ở Công ty Phân phối Năng lượng hiểu được về chuyện đã xảy ra.

- Không có con suối nào chảy ra khỏi hồ trên mặt đất, - Sunna bắt đầu. - Nhưng nước chảy thoát qua đáy hồ với lưu lượng một mét khối mỗi giây từ nhiều năm nay, và hiện tượng ấy, theo một cách nào đó, đã giữ cho mực nước hồ không thay đổi.

Erlendur và Sigurdur Oli nhìn cô, cố hết sức tỏ ra mình đang chăm chú nghe.

- Hai anh có nhớ trận động đất làm rung chuyển miền nam đất nước ngày 17 tháng Sáu năm 2000 không? - cô hỏi.

Cả hai gật đầu.

- Năm giây sau cơn chấn động đầu tiên, một trận động đất lớn khác xảy ra ở hồ, khiến lưu lượng nước thoát ra tăng gấp đôi. Lúc đầu, khi hồ bắt đầu hạ xuống, người ta nghĩ là do lượng mưa giảm. Nhưng sau đó người ta nhận ra nước đang chảy vào những khe nứt dưới đáy hồ, những khe nứt đã tồn tại từ nhiều năm nay. Có vẻ như chúng đã rộng thêm vào thời điểm xảy ra các chấn động địa chất, và hậu quả thì các anh đã thấy. Mặt hồ trước kia rộng mười cây số vuông, nay chỉ còn tám. Còn mực nước đã hạ ít nhất bốn mét.

- Thế là đủ giải thích tại sao bộ xương lại lộ ra, - Erlendur nhận xét.

- Chúng tôi đã tìm thấy một bộ xương cừu khi mực nước hạ hai mét, - Sunna nói tiếp. - Nhưng dĩ nhiên nó không bị đánh vào đầu.

- Sao lại không bị đánh vào đầu? - Sigurdur Oli hỏi.

Cô liếc nhìn ông. Cô cố giấu việc mình đang chăm chú nhìn đôi tay ông, tìm xem có chiếc nhẫn cưới nào không.

- Tôi đã nhìn thấy cái lỗ trên đầu nó, - cô giải thích. - Các anh biết đó là ai chưa?

- Chưa, - Erlendur đáp. - Hẳn ông ta phải dùng thuyền, đúng không? Nếu muốn đi xa đến chỗ đó trên hồ?

- Nếu các anh đang tự hỏi liệu có ai có thể đi bộ tới nơi bộ xương nằm hay không thì câu trả lời là không. Cho đến cách đây không lâu, chỗ đó sâu ít nhất bốn mét. Còn nếu chuyện ấy xảy ra từ rất lâu rồi, dĩ nhiên tôi không thể khẳng định, nhưng rất có thể khi ấy nước còn sâu hơn.

- Vậy là họ đi thuyền? - Sigurdur Oli hỏi. - Quanh hồ có thuyền không?

- Quanh đây có vài căn nhà, - cô đáp, nhìn thẳng vào mắt ông.

Ông có đôi mắt đẹp, xanh thẫm, với hàng lông mày thanh mảnh. Có thể ở đó cũng có thuyền. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một chiếc nào trên hồ.

Rồi cô thầm nghĩ: Ôi, giá mà anh với em có thể chèo thuyền đi dạo một vòng.

Điện thoại di động của Erlendur reo. Là Elinborg.

- Anh nên quay lại đây ngay, - cô nói.

- Có chuyện gì vậy? - Erlendur hỏi.

- Đến mà xem. Kỳ lạ lắm. Tôi chưa từng thấy chuyện gì như thế này.


CHƯƠNG 3

Anh đứng dậy, tắt bản tin thời sự rồi thở dài thật dài. Bản tin đã dành khá nhiều thời giờ để nói về vụ phát hiện bộ xương trong hồ Kleifarvatn, còn phát cả cuộc phỏng vấn viên cảnh sát trưởng hình sự, người khẳng định rằng họ sẽ tiến hành một cuộc điều tra cặn kẽ.

Anh bước tới bên cửa sổ và nhìn ra phía biển. Trên vỉa hè chạy dọc bãi biển, anh thấy đôi vợ chồng tối nào cũng đi ngang qua nhà mình. Người đàn ông lúc nào cũng đi trước một chút, người đàn bà cố bước theo cho kịp. Họ vừa đi vừa chuyện trò; ông chồng quay đầu lại, còn bà vợ trả lời sau lưng ông. Họ đã đi ngang qua căn nhà này suốt bao nhiêu năm, đến nỗi chẳng còn để ý gì tới khung cảnh chung quanh nữa. Ngày trước, đôi khi họ còn nhìn căn nhà này, hoặc những căn nhà khác trên con đường chạy dọc theo biển, cùng những khu vườn. Có lúc họ còn dừng lại xem những trò chơi mới được dựng lên, những công việc sửa sang hàng rào hay sân hiên. Bất kể thời tiết ra sao, bất kể mùa nào trong năm, họ vẫn luôn đi dạo vào cuối buổi chiều hoặc buổi tối, lúc nào cũng chỉ có hai người.

Anh nhìn ra biển và thấy một chiếc tàu chở container lớn ở tận chân trời. Mặt trời vẫn còn cao trên trời, mặc dù buổi tối đã khá muộn. Khoảng thời gian sáng nhất trong năm đang tới gần, trước khi ngày lại ngắn dần, cho đến lúc ánh sáng gần như biến mất. Mùa xuân năm ấy thật đẹp. Ngay từ giữa tháng Tư, anh đã thấy những con choi choi đầu tiên trước nhà. Chúng đã theo những ngọn gió mùa xuân từ Âu Châu bay tới.

Lần đầu tiên anh đi tàu ra ngoại quốc là vào cuối mùa hè. Hồi ấy, những chiếc tàu chở hàng chưa khổng lồ như bây giờ, mà container cũng chưa có. Anh nhớ những người thủy thủ khuân những bao hàng nặng tới năm mươi ký xuống hầm tàu. Anh nhớ những câu chuyện buôn lậu họ kể cho anh nghe. Họ đã quen anh từ mùa hè trước, khi anh làm việc ở bến cảng, và họ thích thú kể cho anh nghe họ đã qua mặt nhân viên hải quan như thế nào. Có những chuyện ly kỳ đến mức khó tin, và anh biết họ đã thêm thắt ít nhiều. Có những chuyện khác sống động, đầy màu sắc, chẳng cần phải phóng đại chút nào. Lại có những chuyện anh chưa bao giờ được phép nghe. Mặc dù họ vẫn quả quyết rằng anh sẽ không đi mách lẻo. Anh ấy mà, cái thằng cộng sản của trường trung học!

Đừng có đi mách nhé!

Anh liếc nhìn chiếc ti-vi. Anh có cảm giác như mình đã chờ đợi tin này suốt cả đời.

Từ khi còn nhớ được, anh đã là người xã hội chủ nghĩa, cũng như tất cả những người trong gia đình anh, cả bên mẹ lẫn bên cha. Trong nhà, chẳng ai biết thế nào là đứng ngoài chính trị; anh được nuôi dạy trong lòng căm ghét chủ nghĩa bảo thủ. Cha anh từng tham gia những cuộc đấu tranh của giới công nhân trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Trong nhà, người ta thường nói chuyện chính trị. Đặc biệt, họ căm ghét quân đội Mỹ đóng trên vùng đất hoang Midnesheidi¹, đội quân được tầng lớp tư bản nhỏ bé Iceland ôm ấp và nuông chiều. Chính tầng lớp thống trị Iceland là những kẻ hưởng lợi nhiều nhất từ sự hiện diện của quân đội ấy.

Midnesheidi¹ Đây là căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, thường được biết đến với tên gọi căn cứ Keflavik. Căn cứ này được trao trả cho Iceland vào năm 2006, vì sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại đây không còn thực sự có lý do tồn tại, như phần sau của tiểu thuyết sẽ cho thấy.

Rồi còn có tinh thần đồng chí, những người bạn cùng xuất thân với anh. Họ có thể rất cấp tiến, và một số người ăn nói cực kỳ hùng hồn. Anh nhớ rõ những buổi họp chính trị. Nhớ niềm say mê, cơn sốt trong giọng nói của những người đứng lên phát biểu. Anh cùng bạn bè đến các buổi họp. Họ cũng như anh, mới bắt đầu bước những bước đầu tiên vào phong trào thanh niên của Đảng. Ở đó, anh lắng nghe vị lãnh đạo của họ diễn những bài diễn văn hùng hồn và đầy nhiệt huyết về giai cấp thống trị áp bức giai cấp vô sản, về quân đội Mỹ đã bỏ cả đất nước vào túi mình. Anh đã nghe những điều ấy không biết bao nhiêu lần, lần nào cũng với một sức thuyết phục mạnh mẽ như nhau. Tất cả những gì anh nghe đều quyến rũ anh, bởi anh được nuôi dạy thành một người Iceland yêu nước và một người xã hội chủ nghĩa cấp tiến, tin chắc vào những điều mình phải tin. Anh biết chân lý đứng về phía mình.

Trong các buổi họp, người ta nói rất nhiều về sự hiện diện của quân đội Mỹ trên vùng đất hoang Midnesheidi, và những mưu mẹo mà giai cấp thống trị Iceland đã sử dụng để biến đất nước Iceland thành một pháo đài cho quân đội. Anh biết đất nước đã bị bán cho người Mỹ như thế nào, để bọn tư bản Iceland tha hồ làm giàu. Anh từng là một trong những thiếu niên kéo đến quảng trường Austurvöll biểu tình, khi những đội bộ binh của đại tư bản từ tòa nhà Althingi, tức Quốc hội, bước ra, tay cầm lựu đạn cay và dùi cui, dùng chúng đánh đập những người biểu tình. Những kẻ bán nước là bọn đánh giày cho chủ nghĩa đế quốc Mỹ! Chúng ta đang bị nghiền nát dưới bàn tay sắt của bọn tư bản Mỹ! Phong trào thanh niên chẳng bao giờ thiếu khẩu hiệu.

Bản thân anh thuộc về đám dân chúng bị áp bức. Anh được nâng đỡ bởi ngọn lửa nhiệt huyết ấy, bởi ma lực của những lời lẽ ấy, và bởi ý nghĩ đúng đắn, chính đáng rằng mọi người đều phải bình đẳng. Giám đốc phải làm việc cùng với công nhân ngay trong nhà máy của mình. Đả đảo giai cấp! Anh đặt vào chủ nghĩa xã hội một niềm tin vừa sắt đá vừa ngây thơ. Trong lòng anh có một nhu cầu mãnh liệt muốn phụng sự lý tưởng, muốn thuyết phục người khác và chiến đấu thay cho tất cả những người không thể tự mình chiến đấu: công nhân và những kẻ bị áp bức.

Tiến lên, những người bị áp bức khắp các nước...

Anh tham gia hết mình vào những cuộc thảo luận trong các buổi họp chi bộ, tìm sách đọc qua phong trào thanh niên. Anh đến các thư viện, các hiệu sách để tìm hiểu thêm. Sách vở thì chẳng thiếu. Anh muốn tiếng nói của mình được nghe thấy. Tận đáy lòng, anh biết mình đang nắm giữ chân lý. Nhiều điều anh nghe được trong hàng ngũ phong trào thanh niên khiến anh tràn ngập cảm giác mạnh mẽ về lẽ công bằng.

Dần dần, anh học được câu trả lời cho những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, đến đấu tranh giai cấp như động lực thúc đẩy lịch sử, đến tư bản và giai cấp vô sản. Càng đọc, anh càng tập cách minh họa những điều ấy bằng những câu trích dẫn mang tinh thần cách mạng. Những gì anh đọc càng ngày càng khiến anh thích thú. Chẳng bao lâu sau, kiến thức của anh về lý luận Mác-xít và khả năng hùng biện đã vượt xa các đồng chí cùng lứa. Điều đó khiến những người lãnh đạo phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa chú ý đến anh. Người ta bỏ rất nhiều công sức vào việc lựa chọn thành viên cho các ban lãnh đạo, các ủy ban khác nhau, cũng như việc soạn thảo các tuyên ngôn. Rồi họ hỏi anh có muốn vào ban lãnh đạo hay không. Khi ấy anh đang học năm thứ ba trung học. Trong trường, họ đã lập một ban thảo luận và đặt tên là Lá Cờ Đỏ. Cha anh quyết định rằng trong bốn người con, chỉ mình anh được tiếp tục việc học. Về điều ấy, anh sẽ biết ơn cha mình suốt đời.

Dù sao đi nữa.

Phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa hoạt động rất sôi nổi, phát hành một tờ thông tin và thường xuyên tổ chức các buổi họp. Người lãnh đạo của họ thậm chí còn được mời tới Moskva, rồi trở về với đầy những câu chuyện về đế quốc vô sản. Công cuộc tái thiết thật kỳ diệu. Người dân hạnh phúc biết bao. Họ có tất cả. Nền kinh tế tập thể và chính sách kế hoạch hóa mở ra những triển vọng vượt xa mọi hệ thống khác. Công cuộc tái thiết kỹ nghệ sau chiến tranh vượt quá mọi mong đợi. Những nhà máy mọc lên như từ dưới đất, thuộc về xã hội và thuộc về nhân dân, những người làm việc trong đó. Những khu dân cư mới phủ kín vùng ngoại ô các thành phố lớn. Toàn bộ dịch vụ y tế đều miễn phí. Tất cả những gì họ đọc được, tất cả những gì họ nghe được, đều là sự thật, hoàn toàn là sự thật. Một thời đại tuyệt vời làm sao!

Những người khác cũng từng sang Liên Xô và trở về với những trải nghiệm khác hẳn, những người không tỏ ra hào hứng như vậy. Nhưng điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến phong trào thanh niên. Những người ấy chỉ là tay sai của chủ nghĩa tư bản. Họ đã phản bội lý tưởng và phản bội cuộc đấu tranh vì một xã hội công bằng hơn.

Những buổi họp của ban thảo luận Lá Cờ Đỏ rất đông người tham dự và ngày càng lôi kéo thêm nhiều người vào phong trào. Anh được nhất trí bầu làm trưởng ban, rồi chẳng bao lâu sau đã được những người lãnh đạo đảng xã hội chủ nghĩa chú ý đến. Năm cuối trung học, anh tốt nghiệp với thành tích xuất sắc. Khi ấy, dường như đã quá rõ ràng rằng anh có tố chất của một nhà lãnh đạo tương lai.

Anh quay lưng lại với cửa sổ, bước đến bên tấm ảnh chụp chung của những học sinh tốt nghiệp cùng lớp, treo phía trên cây dương cầm. Anh nhìn những gương mặt dưới những chiếc mũ tốt nghiệp màu trắng. Những nam sinh mặc đồ đen, những nữ sinh mặc đầm. Ánh nắng chiếu rực mặt tiền ngôi trường trung học, những chiếc mũ tốt nghiệp sáng lóa dưới nắng.

Anh đạt loại khá, chỉ thiếu một chút nữa là được loại giỏi.

Anh đưa tay vuốt lên tấm ảnh. Anh nhớ những năm tháng trung học. Anh nhớ cái thời mà những niềm tin của anh sâu sắc đến nỗi không gì có thể lay chuyển được.

Năm cuối trung học, anh được mời vào làm việc cho cơ quan ngôn luận của Đảng. Mùa hè năm trước, anh làm việc ở bến cảng, chất hàng lên tàu, tiếp xúc với công nhân, thủy thủ và chuyện trò với họ. Họ gọi anh là "thằng cộng sản", vì nhiều người trong số họ cực kỳ bảo thủ.

Anh vốn quan tâm đến nghề báo và biết rằng cơ quan ngôn luận của Đảng là một trong những chỗ dựa của phong trào.

Cùng với phó bí thư phong trào thanh niên, anh đến gặp phó bí thư Đảng trước khi bắt đầu làm việc ở tòa báo. Ông phó bí thư gầy guộc ngồi trong một chiếc ghế bành sâu lòng, vừa lau kính bằng khăn tay vừa nói với họ về ngày một đế chế xã hội chủ nghĩa ra đời trên đất Iceland.

Ông nói bằng một giọng trầm thấp. Mỗi lời ông nói đều đúng đắn và chân thật đến nỗi một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng anh. Ngồi trong căn phòng khách nhỏ, anh chăm chú lắng nghe từng lời.

Anh học rất giỏi. Học môn gì cũng vậy, dù lịch sử hay toán học, anh đều không gặp khó khăn. Một khi điều gì đã vào đầu thì sẽ ở lại đó mãi mãi; anh có thể nhớ lại bất cứ lúc nào. Trí nhớ và khả năng tiếp thu ấy giúp anh rất nhiều trong nghề báo. Anh học rất nhanh. Anh làm việc nhanh, suy nghĩ nhanh, và có thể phỏng vấn một người trong một thời gian dài mà chẳng cần ghi chép quá vài câu. Anh biết thứ báo chí mình đang làm không hề có tính khách quan, nhưng thật ra thì có ai thực sự khách quan đâu.

Anh dự định mùa thu năm sau sẽ ghi danh vào Đại học Iceland, và người ta đề nghị anh tiếp tục làm việc ở tòa báo trong suốt mùa đông. Anh chẳng cần phải suy nghĩ đến lần thứ hai.

Giữa mùa đông, ông phó bí thư Đảng mời anh đến nhà. Đảng Cộng sản Cộng hòa Dân chủ Đức đề nghị cho một số sinh viên Iceland sang học tại Đại học Leipzig. Nếu nhận lời, anh phải tự lo liệu việc đi lại, nhưng đổi lại sẽ được ăn ở miễn phí.

Anh muốn sang Đông Âu hoặc Liên Xô để tận mắt nhìn thấy công cuộc tái thiết sau chiến tranh. Anh muốn đi xa, tìm hiểu những dân tộc khác, học những ngoại ngữ. Anh muốn tận mắt chứng kiến chủ nghĩa xã hội hoạt động như thế nào.

Anh đã từng nghĩ đến việc nộp đơn vào Đại học Moskva, và khi đến gặp ông phó bí thư, anh vẫn chưa quyết định. Ông bí thư lau kính bằng chiếc khăn tay, nói rằng sang Leipzig học là một cơ hội hiếm có để làm quen với guồng máy của một nhà nước xã hội chủ nghĩa, tận mắt chứng kiến chủ nghĩa xã hội vận hành như thế nào, và học hỏi để sau này có thể phụng sự đất nước tốt hơn.

Ông phó bí thư đeo kính trở lại.

- Cũng như cơ quan ngôn luận của Đảng nữa, - ông nói thêm. - Cậu sẽ thấy dễ chịu ở đó. Leipzig là một thành phố có tiếng về mặt lịch sử, và cũng gắn liền với lịch sử dân tộc chúng ta. Halldor Laxness từng đến đó thăm người bạn của ông là Johann Jonsson. Còn tuyển tập truyện dân gian của Jon Arnason thì được nhà sách Heinrich ở Leipzig tài trợ xuất bản vào năm 1862.

Anh gật đầu. Anh đã đọc tất cả những gì Halldor Laxness viết về chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, và rất khâm phục tài thuyết phục của ông.

Anh nảy ra ý định xin đi theo một chiếc tàu chở hàng, làm việc trên tàu để lấy tiền trang trải chuyến đi ra nước ngoài. Một người chú bên nội quen biết một người trong hãng tàu, người trước đó đã tìm được cho anh một việc làm mùa hè. Cả gia đình mừng rỡ như mở cờ trong bụng. Chưa một ai trong gia đình từng ra nước ngoài. Chưa ai từng đi tàu, lại càng chưa nói đến chuyện sang một nước khác để học đại học. Đối với họ, đó chẳng khác nào một câu chuyện cổ tích.

Cuộc phiêu lưu tuyệt vời ấy trở thành đề tài trong mọi cuộc điện thoại, mọi lá thư. Người ta bảo anh rồi sẽ nên người. Biết đâu sau này anh còn làm bộ trưởng!

Tàu ghé bến đầu tiên ở quần đảo Faroe, rồi đến Copenhagen, Rotterdam và Hamburg, nơi anh xuống tàu. Từ đó, anh đi xe lửa đến Berlin và ngủ qua đêm trong nhà ga. Tối hôm sau, anh lên chuyến tàu đi Leipzig.

Anh biết sẽ chẳng có ai ra đón mình. Anh chỉ có một mảnh giấy ghi địa chỉ, giữ trong túi, rồi cứ thế hỏi đường cho đến khi tìm được nơi mình cần đến.

Đứng trước tấm ảnh chụp những học sinh tốt nghiệp, anh nặng nề thở dài khi nhìn gương mặt người bạn anh từng quen ở Leipzig. Họ đã học cùng một lớp thời trung học.

Giá như lúc ấy anh biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.

Anh tự hỏi liệu cuối cùng cảnh sát có khám phá ra sự thật về người đàn ông dưới hồ hay không. Anh tự trấn an rằng chuyện ấy đã xảy ra từ lâu lắm rồi, và chẳng còn ai quan tâm đến chuyện đó nữa.

Rằng người đàn ông dưới hồ Kleifarvatn chẳng còn có ý nghĩa gì đối với bất kỳ ai nữa.


CHƯƠNG 4

Đội Khoa học Hình sự đã dựng một chiếc lều lớn phía trên bộ xương. Elinborg đứng ở cửa lều, nhìn Erlendur và Sigurdur Oli rảo bước trên nền hồ khô cạn về phía mình. Buổi tối đã khá muộn, đám nhà báo cũng đã rời đi. Sau khi tin phát hiện bộ xương được loan ra, xe cộ quanh hồ trở nên đông đúc hơn, nhưng giờ đây mọi thứ lại lắng xuống và sự yên tĩnh đã trở lại.

- À, cuối cùng cũng tới! - Elinborg lên tiếng khi hai người đã đến đủ gần để nghe thấy.

- Sigurdur Oli chắc phải dừng lại ăn một cái hamburger trên đường, - Erlendur bực bội đáp. - Có chuyện gì vậy?

- Vào đây, - Elinborg nói, mở cửa lều. - Bác sĩ pháp y tới rồi.

Erlendur nhìn về phía bờ hồ trong sự tĩnh lặng của buổi chiều tà, nghĩ đến những khe nứt chạy xuyên qua đáy hồ. Ông ngước mắt lên trời. Mặt trời vẫn còn cao, trời vẫn còn sáng rõ. Ánh mắt ông dừng lại trên những đám mây trắng xốp ngay phía trên đầu, và ông lại thấy kinh ngạc trước hiện tượng kỳ lạ này: ngay tại nơi ông đang đứng, ngày trước từng có tới bốn mét nước.

Đội Khoa học Hình sự đã gạt hết cát khỏi bộ xương, để lộ toàn bộ hình hài. Không còn thấy một mẩu thịt hay thậm chí một mảnh quần áo nào. Ngay bên cạnh, một người phụ nữ đang ngồi xổm, dùng một cây bút chì màu vàng cạo nhẹ lớp cát trên xương cùng.

- Đây là một người đàn ông, - cô nói. - Tầm vóc trung bình, độ tuổi có lẽ cũng ở mức trung bình, nhưng tôi phải xem xét kỹ hơn mới có thể nói chắc. Tôi không thể biết ông ta đã nằm dưới nước bao lâu - bốn mươi, có lẽ năm mươi năm. Có khi còn lâu hơn. Nhưng đó chỉ là phỏng đoán. Khi bộ xương được đưa về nhà xác ở Baronstigur, tôi sẽ có thể xem xét kỹ hơn và đưa ra một nhận định chính xác hơn.

Cô đứng dậy chào họ. Erlendur biết cô tên Matthildur, mới nhận chức bác sĩ pháp y. Ông muốn hỏi điều gì đã khiến cô muốn dấn thân vào công việc điều tra tội ác; tại sao cô không bằng lòng làm một bác sĩ bình thường như bao người khác và hưởng một cuộc sống đầy đủ trong xã hội Iceland.

- Ông ta bị đánh vào đầu à? - Erlendur hỏi.

- Có vẻ là vậy, - Matthildur đáp. - Nhưng không dễ xác định vật gì đã gây ra. Mọi dấu vết quanh miệng lỗ đều đã biến mất.

- Vậy là chúng ta đang đối diện với một vụ giết người có chủ ý, - Sigurdur Oli nhận xét.

- Vụ giết người nào mà chẳng có chủ ý, - Matthildur đáp. - Chỉ khác nhau ở mức độ ngu xuẩn mà thôi.

- Chuyện đây là một vụ giết người thì khỏi phải bàn, - Elinborg xen vào. Từ nãy tới giờ cô vẫn im lặng nghe cuộc nói chuyện.

Cô bước qua bộ xương, chỉ tay về phía cái hố lớn mà các nhân viên Khoa học Hình sự đã đào dưới đáy hồ. Erlendur bước tới và nhìn thấy một chiếc thùng kim loại màu đen to nặng, buộc vào bộ xương bằng một sợi dây thừng lớn. Chiếc thùng gần như vẫn còn nằm dưới lớp cát, nhưng có thể thấy bên trong vài bộ phận trông giống những đồng hồ đo đã hỏng, có kim chỉ và những nút bấm màu đen. Chiếc thùng móp méo, đầy những vết xước: nó đã bị bung ra và cát đã tràn vào bên trong.

- Cái gì vậy? - Sigurdur Oli hỏi.

- Chỉ có Trời mới biết. Dù sao thì người ta đã dìm ông ta xuống nước, buộc ông ta vào cái thứ này, - Elinborg đáp.

- Một loại dụng cụ đo đạc à? - Erlendur hỏi.

- Tôi chưa từng thấy thứ gì như thế này, - Elinborg đáp. - Bên Khoa học Hình sự nghĩ đó là một máy phát cũ. Họ đi ăn trưa rồi.

- Máy phát? Loại máy phát gì? - Erlendur hỏi.

- Họ cũng không biết. Phải lấy nó ra khỏi cát đã.

Erlendur xem xét sợi dây thừng lớn buộc vào bộ xương và chiếc thùng đen được dùng để dìm xác xuống nước. Ông hình dung cảnh mấy người đàn ông khó nhọc lôi cái xác ra khỏi một chiếc xe, buộc nó vào máy phát vô tuyến, rồi đưa cả hai ra xa bờ bằng thuyền trước khi quẳng tất cả xuống nước.

- Vậy là có người đã dìm ông ta xuống hồ? - ông hỏi.

- Chắc chắn ông ta không tự làm được chuyện đó, - Sigurdur Oli đáp. - Chẳng lẽ ông ta tự đi ra giữa hồ, tự buộc mình vào một cái máy phát mà ông ta ôm trong tay, rồi còn tự đập vỡ đầu mình, cẩn thận chọn cách ngã xuống nước để chắc chắn biến mất luôn? Nếu vậy thì đúng là vụ tự tử ngu xuẩn nhất trong lịch sử.

- Anh nghĩ cái dụng cụ này nặng lắm không? - Erlendur hỏi, cố hết sức không để Sigurdur Oli làm mình nổi cáu.

- Có, tôi có cảm giác nó khá nặng, - Matthildur đáp.

- Có lẽ nên dùng máy dò kim loại để tìm hung khí dưới đáy hồ, biết đâu đó là một chiếc búa hay thứ gì tương tự? - Elinborg hỏi. - Có thể người ta đã ném nó xuống hồ cùng với cái xác.

- Bên Khoa học Hình sự sẽ lo việc đó, - Erlendur đáp, quỳ xuống bên cạnh chiếc thùng đen. Ông gạt lớp cát phủ trên mặt thùng.

- Có khi là một chiếc máy vô tuyến nghiệp dư, - Sigurdur Oli nhận xét.

- Vậy anh sẽ đến chứ? - Elinborg hỏi. - Ý tôi là, buổi ra mắt sách ấy?

- Thế nào chúng ta chẳng phải đến, đúng không? - Sigurdur Oli nhận xét.

- Tôi đâu muốn ép anh.

- Tựa sách là gì? - Erlendur hỏi.

- Lá và Huệ, - Elinborg đáp. - Một kiểu chơi chữ ấy mà. "Lá" như lá lasagna hay những lớp bột trong bánh ngàn lớp, rồi tất nhiên còn có chữ "huệ"... délices, nghĩa là những món ngon, cậu hiểu không?

- Đặt tên hay đấy, - Erlendur tán thành, liếc sang Sigurdur Oli với vẻ ngơ ngác, khiến anh ta phá lên cười.

Ngồi xếp bằng đối diện ông trong bộ đồ liền quần màu trắng, Eva Lind lấy ngón trỏ cuộn một lọn tóc quanh ngón tay, hết vòng này đến vòng khác, như bị thôi miên. Thường thì bệnh nhân nội trú không được phép tiếp khách, nhưng nhân viên ở đây đều biết Erlendur nên chẳng ai phản đối khi ông xin gặp con gái.

Hai cha con ngồi im lặng hồi lâu. Họ đang ở phòng sinh hoạt chung của bệnh nhân, những bức tường phủ đầy áp phích chống rượu và ma túy.

- Ba vẫn còn qua lại với mụ già đó à? - Eva Lind hỏi, tay vẫn cuộn một lọn tóc quanh ngón trỏ.

- Đừng có gọi bà ấy là mụ già nữa, - Erlendur đáp. - Valgerdur kém ba có hai tuổi thôi.

- Thì đúng là mụ già mà. Vậy ba vẫn còn qua lại với bà ta à?

- Ừ.

- Thế bà Valgerdur có đến nhà ba không?

- Bà ấy đến một lần.

- Vậy là hai người hẹn nhau ở khách sạn?

- Ừ, cũng có khi như vậy. Còn con, dạo này thế nào? Sigurdur Oli gửi lời thăm con. Anh ta nói vai đã đỡ hơn rồi.

- Con đánh trật. Con nhắm vào đầu cơ.

- Con đúng là đồ quỷ cái, - Erlendur nhận xét.

- Thế bà ta bỏ chồng chưa? Bà Valgerdur ấy vẫn còn có chồng, phải không? Chẳng phải có lần ba đã nói với con như vậy sao?

- Chuyện đó không liên quan đến con.

- Vậy là bà ta cắm sừng chồng. Nghĩa là ba đang dan díu với một người đàn bà có chồng. Ba nghĩ sao về chuyện đó, hả?

- Dù chuyện đó chẳng liên quan gì đến con, ba với bà ấy chưa hề ngủ với nhau. Với lại, đừng có ăn nói thô tục như thế!

- May quá, hai người chưa ngủ với nhau!

- Này, ở đây họ không cho con uống thuốc gì à? Thuốc chữa cái tính độc miệng ấy?

Ông đứng dậy. Cô ngước mắt nhìn ông.

- Không phải con là người xin ba nhốt con vào đây, - cô nói. - Con cũng chẳng nhờ ba lo cho con. Con muốn ba để con yên. Hoàn toàn để con yên!

Ông rời khỏi phòng mà chẳng buồn nói lời từ biệt.

- À, cho con gửi lời chào mụ già khốn kiếp ấy nhé! - Eva Lind gọi với theo sau lưng ông, ngón trỏ vẫn thản nhiên cuộn tóc như trước. - Chào mụ già khốn kiếp! - cô nhắc lại, giọng nhỏ hơn.

Erlendur đậu xe bên cạnh chung cư rồi bước vào cầu thang. Khi lên đến tầng nhà mình, ông nhận thấy một thanh niên cao gầy, tóc dài, đang đứng đó hút thuốc. Phần thân trên của anh ta chìm trong bóng tối nên Erlendur không nhìn rõ mặt. Thoạt đầu, ông tưởng đó là một kẻ nào đó có thù oán với mình. Đôi khi có những kẻ say rượu gọi điện, dọa ông những chuyện khủng khiếp, chỉ vì bằng cách này hay cách khác, ông đã xen vào và làm xáo trộn cuộc đời khốn khổ của họ. Có kẻ thậm chí còn tìm đến tận nhà để trách móc ông. Ông nghĩ có lẽ lần này mình cũng gặp phải một chuyện như thế ở cầu thang.

Thấy Erlendur đến, người thanh niên vươn vai.

- Con ngủ nhờ nhà ba được không? - anh ta hỏi, rõ ràng chẳng biết phải làm gì với mẩu thuốc lá đang cầm trên tay. Erlendur nhận thấy dưới đất đã có hai mẩu thuốc.

- Cậu là...?

- Sindri, - người thanh niên ngắt lời, bước ra khỏi bóng tối. - Con trai ba đây. Ba không nhận ra con sao?

- Sindri? - Erlendur sững sờ.

- Con mới chuyển vào thành phố, - Sindri giải thích. - Rồi chợt nghĩ ghé thăm ba một chút.

Sigurdur Oli đã lên giường nằm cạnh Bergthora thì điện thoại trên bàn đầu giường reo lên. Anh nhìn số hiện trên màn hình. Biết người gọi là ai, anh không định nghe máy. Đến hồi chuông thứ bảy, Bergthora véo anh một cái.

- Nghe đi, - cô ra lệnh. - Nói chuyện với anh ấy cũng tốt cho anh ấy lắm. Anh ấy cứ tưởng anh đang giúp anh ấy vượt qua chuyện này.

- Anh không muốn ông ta nghĩ mình có thể gọi vào nhà anh lúc nửa đêm thế này, - Sigurdur Oli đáp.

- Thôi nào, đừng có làm bộ nữa, - Bergthora nói, vươn tay qua người Sigurdur Oli để lấy điện thoại trên bàn đầu giường.

- Vâng, anh ấy có ở nhà. Xin chờ một chút.

Cô đưa ống nghe cho Sigurdur Oli.

- Gọi anh đấy, - cô nói, mỉm cười.

- Hai người đang ngủ à? - giọng nói trong điện thoại hỏi.

- Vâng, - Sigurdur Oli nói dối. - Tôi đã bảo ông đừng gọi vào nhà tôi rồi. Tôi không muốn ông gọi đến đây.

- Xin lỗi anh, - giọng nói kia đáp. - Tôi không sao ngủ được. Tôi uống thuốc chống trầm cảm, thuốc an thần, thuốc ngủ, nhưng chẳng thuốc nào có tác dụng.

- Ông không thể muốn gọi lúc nào thì gọi vào đây được, - Sigurdur Oli đáp.

- Xin lỗi anh, - người đàn ông nói. - Nhưng tôi thấy trong người tệ lắm.

- Không sao đâu.

- Hôm nay đúng một năm rồi.

- Vâng, tôi biết.

- Cả một năm trời sống trong địa ngục, - người đàn ông nói.

- Ông cố đừng nghĩ đến chuyện đó nữa, - Sigurdur Oli khuyên. - Đã đến lúc ông thôi tự hành hạ mình rồi. Có nghĩ mãi cũng chẳng thay đổi được gì.

- Nói thì dễ, - người đàn ông phản bác.

- Tôi biết. Nhưng ông cứ thử xem.

- Không hiểu lúc đó tôi nghĩ cái khỉ gì mà lại đi mua mấy trái dâu chó chết ấy?

- Chuyện này chúng ta đã nói đi nói lại cả ngàn lần rồi, - Sigurdur Oli đáp, nhìn Bergthora và lắc đầu. - Không phải lỗi của ông. Ông phải hiểu điều đó. Đừng tự hành hạ mình như thế nữa.

- Có chứ, là lỗi của tôi, - người đàn ông đáp. - Đúng là lỗi của tôi. Mọi chuyện xảy ra đều do lỗi của tôi.

Nói xong, ông ta cúp máy.


CHƯƠNG 5

Người phụ nữ nhìn lần lượt hai người, khẽ mỉm cười rồi mời họ vào nhà. Elinborg bước vào trước, Erlendur khép cửa lại sau lưng họ. Vì đã được báo trước về chuyến viếng thăm, bà đã dọn sẵn bàn, bày lên đó bánh rán và bánh sablé. Từ trong bếp thoảng ra mùi cà phê.

Họ đang ở trong một căn nhà liền kề tại vùng ngoại ô Breidholt. Elinborg đã nói chuyện với bà qua điện thoại. Bà đã tái hôn. Người con trai của cuộc hôn nhân đầu tiên đang học y ở Hoa Kỳ. Với người chồng sau, bà có thêm hai người con. Ngạc nhiên trước cú điện thoại của Elinborg, bà đã xin nghỉ làm buổi chiều để tiếp Erlendur và Elinborg tại nhà.

- Có phải ông ấy không? - bà hỏi, mời hai người ngồi xuống.

Bà tên Kristin, đã ngoài sáu mươi và trở nên đẫy đà hơn theo tuổi tác. Bà đã xem phóng sự trên truyền hình về việc phát hiện bộ xương trong hồ Kleifarvatn.

- Chúng tôi chưa thể khẳng định, - Erlendur đáp. - Chúng tôi biết đó là một người đàn ông, nhưng vẫn đang chờ người ta xác định tuổi chính xác hơn.

Đã vài ngày trôi qua kể từ khi phát hiện bộ xương. Một phần xương đã được gửi đi phân tích carbon 14, nhưng bác sĩ pháp y còn sử dụng một phương pháp khác mà theo bà có thể giúp đẩy nhanh quá trình xác định niên đại. Elinborg đã kể cho ông nghe về phương pháp này.

- Đẩy nhanh bằng cách nào? - Erlendur hỏi.

- Cô ấy sử dụng nhà máy nhôm ở Straumsvik, - Elinborg đáp.

- Nhà máy nhôm?

- Phải. Cô ấy nghiên cứu những số liệu lịch sử về tình trạng ô nhiễm do nhà máy thải ra. Đại loại như dioxide lưu huỳnh, fluor và những thứ tương tự. Anh không nhớ à?

- Không.

- Một lượng dioxide nhất định được thải vào khí quyển. Nó lắng xuống mặt biển và mặt đất; người ta có thể tìm thấy dấu vết của nó, trong đó có những hồ nằm gần nhà máy nhôm, chẳng hạn như hồ Kleifarvatn. Nhờ các bộ lọc chống ô nhiễm được cải tiến, lượng khí thải đã giảm xuống. Cô ấy nói đã phát hiện một lượng nhất định trong xương. Vì vậy, theo một ước tính sơ bộ, cái xác đã được ném xuống hồ trước năm 1970.

- Sai số là bao nhiêu?

- Năm năm, cộng hoặc trừ, - Elinborg đáp.

Đến lúc này, cuộc điều tra về bộ xương trong hồ Kleifarvatn tập trung vào những người đàn ông mất tích trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1975. Trên toàn quốc có tám người như vậy. Trong số đó, năm người sống ở khu vực thủ đô.

Người chồng đầu tiên của Kristin là một trong số họ. Erlendur và Elinborg đã xem lại hồ sơ của cảnh sát. Chính người vợ đã đến trình báo việc chồng mình mất tích.

Một hôm, ông không trở về sau giờ làm. Bà chờ ông, bữa cơm đã dọn sẵn. Đứa con trai nhỏ chơi dưới sàn nhà. Buổi tối cứ thế trôi qua. Bà tắm cho con, đặt nó lên giường rồi dọn dẹp nhà bếp. Sau đó, bà ngồi xuống chờ chồng. Nếu không phải là tối thứ Năm¹, hẳn bà đã xem truyền hình.

Đó là mùa thu năm 1969. Họ sống trong một căn hộ nhỏ mà họ vừa mới mua. Người chồng phụ trách việc bán hàng tại một công ty bất động sản, và họ đã mua được căn hộ với những điều kiện khá thuận lợi.

Bà vừa tốt nghiệp Trường Thương mại thì hai người gặp nhau. Một năm sau, họ tổ chức một đám cưới linh đình, và một năm sau ngày cưới, con trai họ chào đời. Chồng bà hết mực yêu quý đứa con ấy.

- Đó là lý do vì sao tôi chưa bao giờ hiểu được, - Kristin nói, lần lượt nhìn hai người.

Erlendur có cảm giác bà vẫn còn hy vọng người đàn ông đã biến mất khỏi cuộc đời bà một cách đột ngột và khó hiểu ấy sẽ trở về. Ông hình dung bà ngồi chờ trong bóng tối mùa thu; hình dung bà gọi điện cho những người quen và bạn bè, gọi cho gia đình - những người đã đến căn hộ này trong những ngày sau đó để an ủi và tiếp thêm sức mạnh cho bà trong nỗi buồn.

- Chúng tôi từng rất hạnh phúc, - bà nói. - Chúng tôi thương thằng bé Benni hết mực. Tôi tìm được việc ở Hiệp hội Thương nhân, còn ông ấy, theo tôi biết, công việc cũng đang tiến triển tốt. Đó là một công ty bất động sản lớn, ông ấy là một người bán hàng giỏi. Ông ấy không học hành đến nơi đến chốn, mới học hết ba năm trung học thì nghỉ. Nhưng ông ấy là người chịu khó, và tôi nghĩ ông ấy hài lòng với cuộc sống của mình. Ông ấy chưa bao giờ để tôi nghĩ rằng còn có chuyện gì khác.

Bà rót cà phê vào tách của họ.

¹ Vào thời ấy, đài truyền hình Iceland không phát sóng vào ngày thứ Năm, cũng như trong suốt kỳ nghỉ hè. (Mọi chú thích đều của người dịch.)

- Ngày cuối cùng ấy, tôi chẳng nhận thấy điều gì bất thường, - bà nói tiếp, đưa cho họ một đĩa đầy bánh rán. - Buổi sáng anh ấy chào tôi đi làm, đến trưa gọi điện chỉ để hỏi thăm tôi, rồi sau đó lại gọi một lần nữa, bảo rằng sẽ về hơi muộn. Sau đó thì tôi không còn nghe tin gì của anh ấy nữa.

- Có thể công việc của anh ấy không được suôn sẻ lắm, dù anh ấy không nói gì với chị? - Elinborg hỏi. - Chúng tôi đã xem các hồ sơ và...

- Công ty lúc ấy sắp có đợt cắt giảm nhân sự. Mấy ngày trước đó anh ấy có nói qua với tôi, nhưng chưa biết ai sẽ bị ảnh hưởng. Rồi đúng hôm ấy, người ta gọi anh ấy lên và báo rằng họ không còn cần anh ấy nữa. Sau này chính ông chủ của anh ấy kể lại cho tôi. Ông ấy nói chồng tôi không nói một lời nào khi nghe tin mình bị sa thải, không phản đối cũng chẳng hỏi han gì, chỉ lặng lẽ trở lại ngồi vào bàn làm việc. Anh ấy không hề có phản ứng gì.

- Anh ấy không gọi cho chị để báo tin sao? - Elinborg hỏi.

- Không, - người phụ nữ đáp, và Erlendur cảm nhận được nỗi buồn vẫn còn bao phủ lấy bà. - Anh ấy có gọi cho tôi, như tôi vừa nói, nhưng không hề nói gì về chuyện bị sa thải.

- Vì sao anh ấy bị sa thải? - Erlendur hỏi.

- Tôi chưa bao giờ nhận được một lời giải thích thỏa đáng. Tôi có cảm giác ông chủ muốn tránh làm tôi đau lòng, nên đã cố tỏ ra tế nhị khi nói chuyện với tôi. Ông ấy kể rằng công ty phải cắt giảm nhân sự vì doanh số giảm sút, nhưng tôi cũng nghe người ta nói Ragnar đã không còn quan tâm đến công việc của mình. Công việc ấy không còn khiến anh ấy say mê nữa. Sau một buổi họp mặt với những người bạn học cũ, anh ấy đã nói đến chuyện học lại. Anh ấy được mời đến dù đã nghỉ học trước khi thi tốt nghiệp trung học, còn tất cả những người bạn cũ của anh ấy đều đang trên đường trở thành bác sĩ, luật sư hoặc kỹ sư. Anh ấy nói như thể hối tiếc vì đã bỏ học giữa chừng.

- Chị có nghĩ chuyện đó có liên quan đến việc anh ấy mất tích không? - Erlendur hỏi.

- Không, cũng chẳng hơn thế, - Kristin đáp. - Chuyện này làm tôi nhớ đến một cuộc cãi vã nhỏ mà chúng tôi đã có vào tối hôm trước. Hoặc với chuyện thằng bé khiến chúng tôi mất ngủ triền miên. Hoặc với chuyện anh ấy không đủ tiền để đổi xe. Thật ra, tôi chẳng biết phải nghĩ thế nào.

- Anh ấy có bị trầm cảm không? - Elinborg hỏi. Cô nhận thấy người phụ nữ đã dùng thì hiện tại ở câu vừa rồi, như thể tất cả những chuyện ấy vừa mới xảy ra.

- Ừ, cũng như phần lớn người Iceland thôi. Anh ấy mất tích vào mùa thu, nếu điều đó có ý nghĩa gì.

- Hồi đó, chị từng khẳng định rằng không thể nào là một vụ án mạng, - Erlendur nhận xét.

- Đúng vậy, - bà đáp. - Tôi không thể nào tưởng tượng được một chuyện như thế. Anh ấy không dính dáng đến loại người ấy. Nếu anh ấy tình cờ gặp phải một kẻ giết người thì đó hẳn phải là một sự ngẫu nhiên hết sức hy hữu. Tôi chưa bao giờ tin chuyện như thế đã xảy ra, và bên cảnh sát các anh cũng vậy. Các anh chưa bao giờ xem việc anh ấy mất tích là một vụ án hình sự. Anh ấy ở lại chỗ làm sau khi mọi người đã về hết. Đó là nơi người ta nhìn thấy anh ấy lần cuối.

- Vậy là chưa bao giờ có một cuộc điều tra hình sự nào về việc anh ấy mất tích? - Elinborg hỏi.

- Không, chưa bao giờ, - Kristin đáp.

- Cho tôi hỏi thêm một chuyện. Chồng chị có phải là người chơi radio nghiệp dư không?

- Radio nghiệp dư? Chính xác thì đó là gì?

- Chính tôi cũng không chắc, - Erlendur đáp. Ông nhìn Elinborg, hy vọng cô sẽ lên tiếng giúp mình, nhưng cô vẫn ngồi im, chẳng nói gì. - Đó là những người dùng máy phát vô tuyến để liên lạc với những người khác ở khắp nơi trên thế giới. Phải, hay nói đúng hơn là hồi ấy phải có những máy phát đủ tầm xa mới có thể liên lạc được với những vùng xa xôi trên thế giới. Chồng chị có một chiếc máy như vậy không?

- Không, - người phụ nữ đáp. - Người chơi radio nghiệp dư à?

- Anh ấy có phát sóng không? - Elinborg hỏi. - Anh ấy có máy phát hay...?

Kristin nhìn cô.

- Vậy rốt cuộc các anh đã tìm thấy thứ gì ở Kleifarvatn? - bà ngạc nhiên hỏi. - Anh ấy chưa bao giờ có máy phát nào cả. Các anh phát hiện loại máy phát gì vậy?

- Anh ấy có khi nào đi câu ở hồ Kleifarvatn không? - Elinborg hỏi, lảng tránh câu hỏi của bà. - Hay anh ấy có biết hồ ấy không?

- Không, chưa bao giờ. Anh ấy hoàn toàn không thích câu cá. Em trai tôi mê câu cá hồi lắm, nó đã từng cố rủ anh ấy cùng đi, nhưng anh ấy từ chối. Về chuyện đó, anh ấy cũng nghĩ giống tôi. Hai vợ chồng tôi cùng quan điểm. Chúng tôi không muốn giết một con vật chỉ để mua vui, cũng không muốn giết khi không thật sự cần thiết. Vả lại, chúng tôi chưa bao giờ đến hồ Kleifarvatn.

Ánh mắt Erlendur rơi xuống một tấm ảnh trong chiếc khung đẹp đặt trên kệ sách phòng khách. Trong ảnh là Kristin cùng một cậu bé. Ông đoán đó là đứa con trai mồ côi cha. Ông chợt nghĩ đến Sindri, con trai mình.

Lúc đầu ông không hiểu ngay lý do Sindri đến thăm. Sindri vẫn luôn tránh mặt ông, khác với Eva Lind, người muốn buộc ông phải nhận trách nhiệm về việc đã bỏ mặc hai đứa con khi chúng còn nhỏ. Erlendur đã ly dị mẹ chúng sau một cuộc hôn nhân ngắn ngủi, và năm tháng càng trôi qua, ông càng cay đắng hối tiếc vì đã không giữ liên lạc với các con.

Hai cha con chào nhau một cách ngượng ngập ngoài hành lang, như hai người xa lạ, rồi Erlendur mời Sindri vào nhà và bắt đầu pha cà phê. Sindri nói mình đang tìm một căn hộ hoặc một căn phòng để ở. Erlendur bảo ông chưa nghe nói có chỗ nào như vậy, nhưng hứa sẽ báo cho ông nếu nghe được tin gì.

- Hay là con ở đây tạm trong khi chờ? - Sindri hỏi, đưa mắt dọc theo kệ sách trong phòng khách.

- Ở đây à? - Erlendur nói từ cửa bếp.

Lúc ấy ông chợt hiểu lý do Sindri đến thăm mình.

- Eva nói ba có một phòng trống, ba chỉ để mấy thứ đồ cũ trong đó thôi.

Erlendur nhìn con trai. Quả thật, trong căn hộ của ông có một phòng trống. Còn những thứ đồ cũ mà Eva nói đến là những món đồ từng thuộc về cha mẹ ông, được ông giữ lại vì không thể hình dung nổi chuyện vứt chúng đi. Đó là những đồ vật từ căn nhà thời thơ ấu của ông: một chiếc rương đầy thư từ của cha mẹ và tổ tiên, một chiếc kệ chạm trổ, những chồng tạp chí, mấy cần câu, và khẩu súng săn cũ của ông nội - vô dụng và nặng đến kinh khủng.

- Còn mẹ con thì sao? - Erlendur gợi ý. - Con không thể đến ở với mẹ à?

- Dạ, được chứ, - Sindri đáp. - Con sẽ làm vậy.

Hai cha con im lặng.

- Không, căn phòng ấy không còn chỗ đâu, - Erlendur nói tiếp. - Vậy nên... ba cũng chẳng biết phải tính sao nữa...

- Nhưng Eva từng ngủ ở đây hơn một lần rồi mà, - Sindri nhận xét.

Sau câu nói ấy là một khoảng im lặng nặng nề.

- Nó bảo con là ba đã thay đổi, - cuối cùng Sindri nói.

- Thế còn con? Con có thay đổi không? - Erlendur hỏi.

- Con đã không uống một giọt rượu nào suốt bao nhiêu tháng nay rồi, nếu ba muốn nói đến chuyện đó.

Erlendur sực tỉnh, nhấp một ngụm cà phê. Ông rời mắt khỏi tấm ảnh, nhìn Kristin. Ông thèm một điếu thuốc.

- Vậy là con trai chị chưa bao giờ biết cha mình, - ông nói.

Khóe mắt, ông thấy Elinborg đang trừng mắt nhìn mình nhưng mặc kệ. Ông biết mình vừa bước qua ranh giới riêng tư của người phụ nữ đã mất chồng một cách bí ẩn hơn ba mươi năm trước mà chưa bao giờ nhận được lời giải thích thỏa đáng. Câu hỏi ấy chẳng liên quan gì đến cuộc điều tra.

- Cha dượng nó luôn đối xử rất tốt với nó, và nó cũng hòa thuận với các anh em cùng mẹ khác cha, - bà giải thích. - Tôi không hiểu câu hỏi của anh liên quan gì đến việc chồng tôi mất tích.

- Đúng vậy, xin chị thứ lỗi, - Erlendur nói.

- Thôi, tôi nghĩ chúng ta đã hỏi hết những gì cần hỏi rồi, - Elinborg kết luận.

- Các anh nghĩ đó là chồng tôi sao? - Kristin hỏi, đứng dậy.

- Khả năng đó không cao lắm, nhưng chúng tôi vẫn phải xem xét kỹ hơn.

Cả ba im lặng một lúc, như thể lời cuối cùng vẫn chưa được nói ra. Như thể còn một điều gì đó lơ lửng trong không khí, chờ được thành lời trước khi cuộc gặp kết thúc.

- Một năm sau khi anh ấy mất tích, người ta tìm thấy một cái xác bị biển đánh dạt vào bán đảo Snaefellsnes. Họ tưởng đó là anh ấy, rồi mới biết không phải, - Kristin nói tiếp, hai bàn tay xoắn vào nhau. - Đôi khi, đến tận bây giờ, tôi vẫn tưởng tượng anh ấy còn sống. Rằng anh ấy chưa chết. Có lúc tôi tự nhủ có lẽ anh ấy đã chuyển đến một vùng quê nào đó, hoặc ra nước ngoài mà không nói cho chúng tôi biết, rồi lập một gia đình mới. Thậm chí có lần tôi tưởng mình nhìn thấy anh ấy ở Reykjavik. Khoảng năm năm trước, tôi gặp một người đàn ông và cứ ngỡ đó là anh ấy. Tôi ngu ngốc đi theo ông ta. Lúc ấy tôi đang ở trung tâm mua sắm Kringlan. Tôi theo dõi ông ta cho đến khi nhận ra, dĩ nhiên, đó không phải anh ấy.

Bà nhìn Erlendur.

- Anh ấy đã biến mất, vậy mà... theo một nghĩa nào đó, anh ấy sẽ không bao giờ biến mất, - bà nói, môi nở một nụ cười buồn.

- Tôi hiểu, - Erlendur đáp. - Tôi hiểu chính xác chị muốn nói gì.

Vừa vào xe, Elinborg đã trách Erlendur vì câu hỏi thiếu tế nhị về người con trai. Erlendur khuyên cô đừng quá ủy mị.

Điện thoại di động của ông reo. Là Valgerdur. Ông đã đoán cô sẽ gọi.

Hai người quen nhau vào dịp Giáng sinh năm trước, khi Erlendur đang điều tra một vụ án mạng trong một khách sạn ở Reykjavik. Từ đó, ông và nữ chuyên viên sinh vật học này duy trì một mối quan hệ rất mong manh.

Cô đã có chồng. Ông ta từng thú nhận đã phản bội cô, nhưng đến lúc phải quyết định lại không muốn phá vỡ cuộc hôn nhân. Ông ta tỏ ra khiêm nhường, ăn năn, xin cô tha thứ và hứa sẽ sửa đổi.

Cô nói mình định bỏ chồng, nhưng vẫn chưa thực sự bước qua được bước ấy.

- Con gái anh dạo này thế nào? - cô hỏi.

Erlendur kể vắn tắt cho cô nghe về chuyến thăm Eva Lind.

- Anh không nghĩ đợt điều trị này rồi cũng sẽ có ích cho nó sao? - Valgerdur hỏi.

- Anh cũng hy vọng vậy, nhưng thật ra anh chẳng biết điều gì có ích hay không có ích cho nó. Nó vẫn cư xử y hệt như trước khi mất con, - Erlendur giải thích.

- Mai mình gặp nhau nhé? - Valgerdur đề nghị.

- Ừ, mai gặp, - ông đáp, rồi họ chào nhau.

- Cô ấy à? - Elinborg hỏi. Cô vốn biết Erlendur đang có một mối quan hệ nào đó với một người phụ nữ.

- Nếu cô muốn nói Valgerdur thì đúng, là cô ấy, - Erlendur đáp.

- Cô ấy lo cho Eva Lind à?

- Bên Khoa học Hình sự nói gì với cô rồi? - Erlendur hỏi để chuyển sang chuyện khác.

- Họ cũng chưa biết nhiều lắm, - Elinborg đáp. - Nhưng họ nghĩ đó là một thiết bị của Nga. Có người đã xóa nhãn hiệu và số sê-ri, nhưng họ vẫn nhận ra được lờ mờ vài chữ cái ở chỗ này chỗ kia. Họ cho rằng đó là chữ Cyrillic.

- Một thứ của Nga à?

- Ừ, của Nga.

Ở đầu phía nam hồ Kleifarvatn có vài căn nhà. Erlendur và Sigurdur Oli tìm hiểu về chủ nhân của những căn nhà ấy. Họ gọi điện hỏi vài câu chung chung về những vụ mất tích có thể liên quan đến hồ. Nhưng chẳng đi đến đâu cả.

Sigurdur Oli kể vài chuyện về Elinborg, lúc này đang bận tối mắt tối mũi với việc chuẩn bị ra mắt cuốn sách nấu ăn.

- Tôi nghĩ cô ấy tưởng nhờ cái thứ đó mà mình sẽ nổi tiếng, - Sigurdur Oli nói.

- Cô ấy muốn nổi tiếng à? - Erlendur hỏi.

- Ai mà chẳng muốn, đúng không? - Sigurdur Oli đáp.

- Phù hoa, tất cả chỉ là phù hoa, - Erlendur nhận xét.


CHƯƠNG 6

Sigurdur Oli đọc lại bức thư ghi những lời cuối cùng của một thanh niên đã rời khỏi nhà vào một ngày năm 1970 và không bao giờ trở về nữa.

Cha mẹ anh ta đều đã bảy mươi tám tuổi nhưng vẫn hoàn toàn khỏe mạnh. Họ còn hai người con trai khác, trẻ hơn, nay đã ngoài năm mươi. Dựa vào những gì viết trong thư, họ tin chắc con trai cả đã tự tử. Họ không biết anh đã tự kết liễu đời mình bằng cách nào, cũng không biết anh đang nằm ở đâu.

Sigurdur Oli hỏi họ về hồ Kleifarvatn, về chiếc máy phát và cái lỗ trên đầu, nhưng cả hai hoàn toàn không hiểu anh đang nói đến chuyện gì. Con trai họ chưa bao giờ gây gổ với ai, cũng không có kẻ thù. Chuyện anh bị sát hại là điều không thể nào xảy ra.

- Hoàn toàn không thể nào nó bị sát hại được, - người mẹ nói, nhìn sang chồng, vẫn không thôi lo lắng cho số phận đứa con đã mất tích bao nhiêu năm nay.

- Bà đọc thư là thấy rõ rồi, - người chồng khẳng định. - Nó đã quyết định thế nào thì quá rõ ràng.

Sigurdur Oli lại đọc bức thư.

Ba má thân yêu, xin ba má tha lỗi cho con nhưng con không thể làm khác được nữa con không chịu nổi và con không thể tưởng tượng nổi mình sẽ sống tiếp thế nào con không thể con không muốn và con không thể.

Bức thư ký tên Jakob.

- Tất cả là tại con nhỏ đó, - người mẹ buộc tội.

- Chúng ta đâu biết chắc chuyện đó, - người chồng cải lại.

- Nó qua lại với người bạn thân nhất của con mình, - bà nói. - Thằng nhỏ nhà mình chịu không nổi.

- Anh nói tôi nghe xem, anh có nghĩ đó là nó không? Anh có nghĩ đó là con trai chúng tôi không? - người chồng hỏi.

Hai ông bà ngồi trong phòng khách, đối diện Sigurdur Oli, chờ đợi câu trả lời cho những câu hỏi đã ám ảnh họ kể từ ngày con trai mất tích. Họ biết rõ anh không thể trả lời câu hỏi khó nhất - câu hỏi mà họ đã vật lộn suốt bao nhiêu năm qua, câu hỏi liên quan đến những gì cha mẹ đã làm và trách nhiệm của họ. Nhưng ít nhất, anh có thể cho họ biết bộ hài cốt được tìm thấy có phải là con trai họ hay không.

Báo chí chỉ nói đến việc phát hiện một bộ xương nam giới trong hồ Kleifarvatn. Không một lời nào về chiếc máy phát hay chiếc sọ bị vỡ. Họ không hiểu tại sao Sigurdur Oli lại dẫn câu chuyện theo hướng đó. Tất cả những gì họ muốn biết chỉ là một điều: có phải là nó không?

- Khả năng đó không cao, - Sigurdur Oli đáp, nhìn lần lượt hai người.

Cuộc mất tích khó hiểu, cùng với cái chết của một người thân yêu, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời họ. Vụ việc chưa bao giờ được khép lại. Con trai họ không trở về nhà, và bao nhiêu năm đã trôi qua như thế. Họ không biết anh đang ở đâu, cũng không biết chuyện gì đã xảy ra. Sự bất định ấy kéo theo nỗi đau và nỗi lo âu không dứt.

- Chúng tôi nghĩ nó đã nhảy xuống biển, - người mẹ nói tiếp. - Nó bơi giỏi lắm. Tôi vẫn luôn nghĩ nó đã bơi ra xa, cho đến khi quá xa để quay lại, hoặc cho đến khi cái lạnh làm nó tê cứng.

- Hồi đó cảnh sát bảo chúng tôi rằng, vì không tìm thấy xác, nên có lẽ nó không nhảy xuống biển, - người chồng giải thích.

- Tất cả cũng tại con nhỏ đó, - người mẹ lại nói.

- Chúng ta không thể trách nó được, - người chồng đáp.

Sigurdur Oli có cảm giác họ cứ nhắc đi nhắc lại những chuyện ấy. Anh đứng dậy, định cáo từ.

- Đôi khi tôi thấy giận nó đến thế, - người mẹ nói, nhưng Sigurdur Oli không biết bà đang nói về con trai hay chồng mình.

Valgerdur đang đợi Erlendur ở nhà hàng. Cô mặc chiếc áo khoác da ba phần tư giống hệt chiếc cô đã mặc trong lần đầu họ hẹn nhau. Họ tình cờ gặp nhau, và Erlendur, chỉ vì muốn thử gan cô, đã mời cô đi ăn tối.

Lúc ấy ông không biết cô có chồng hay có gia đình hay không. Sau đó ông mới biết cô đang sống với chồng, hai con trai đã rời khỏi gia đình, còn cuộc hôn nhân của cô thì đang dần tan vỡ.

Trong lần hẹn thứ hai, cô thú nhận rằng ban đầu cô định lợi dụng Erlendur để trả thù chồng.

Một thời gian sau, cô lại liên lạc với Erlendur, và từ đó họ gặp nhau vài lần. Một hôm, cô đến nhà ông. Ông cố dọn dẹp hết sức có thể: rửa bát, vứt bớt vài tờ tạp chí, xếp sách lại lên kệ.

Ông vốn hiếm khi có khách, và đã đắn đo rất lâu mới chịu để Valgerdur đến nhà mình. Nhưng cô nhất quyết muốn biết ông sống trong một nơi như thế nào.

Còn Eva Lind thì bảo căn hộ của ông chẳng khác gì một cái hang, nơi ông phải bò vào để trốn mình.

- Nhìn bao nhiêu sách này mà xem, - Valgerdur nói, đứng giữa phòng khách. - Anh đọc hết chỗ này rồi à?

- Phần lớn thôi, - Erlendur đáp. - Anh pha cà phê cho em nhé? Anh có mua bánh ngọt đấy.

Cô bước đến bên kệ sách, lướt ngón tay trên gáy những cuốn sách, đọc vài tựa sách rồi rút hết cuốn này đến cuốn khác ra xem.

- Toàn sách viết về những người bị lạc giữa thiên nhiên hoặc mất tích trên những con đường núi cả sao? - Valgerdur hỏi.

Chẳng bao lâu sau, cô nhận ra Erlendur say mê những vụ mất tích đến mức nào. Ông đọc đủ mọi loại sách viết về những người bị lạc giữa thiên nhiên ở Iceland. Ông từng kể cho cô nghe một chuyện mà cho đến lúc ấy, ông chỉ nói với Eva Lind, chưa từng nói với bất kỳ ai khác: em trai ông mất tích năm lên tám tuổi giữa vùng núi thuộc các vịnh hẹp miền Đông, vào đầu mùa đông, khi Erlendur mới mười tuổi.

Hôm ấy, ba cha con cùng đi, hai anh em theo cha. Erlendur và cha trở về bình an, nhưng em trai anh bị lạc và người ta không bao giờ tìm thấy thi thể.

- Có lần anh nói với em rằng trong một cuốn sách nào đó có một đoạn kể về chuyện của anh và em trai anh, - Valgerdur nhắc lại.

- Đúng vậy, - Erlendur đáp.

- Anh cho em xem được không?

- Anh sẽ cho em xem, - Erlendur đáp sau một thoáng ngập ngừng. - Để sau. Chưa phải bây giờ. Sau này anh sẽ cho em xem.

Khi Erlendur bước vào nhà hàng, Valgerdur đứng dậy và như mọi lần, họ chào nhau bằng một cái bắt tay.

Erlendur không thật sự hiểu mối quan hệ giữa hai người là gì, nhưng ông hài lòng với nó. Họ chưa từng ngủ với nhau, dù đã qua lại đều đặn gần sáu tháng nay. Dù sao thì mối quan hệ của họ cũng không mang tính tình dục. Họ chỉ ngồi bên nhau, nói chuyện về đủ mọi điều trong cuộc sống của mỗi người.

- Sao em vẫn chưa bỏ ông ta? - ông hỏi sau khi họ ăn xong, uống cà phê kèm một ly rượu tiêu cơm, rồi nói chuyện về Eva Lind, Sindri, hai người con trai của Valgerdur và công việc.

Thay vì trả lời, cô hỏi ông rất nhiều về bộ xương được tìm thấy trong hồ Kleifarvatn, nhưng ông không thể tiết lộ bao nhiêu. Ông chỉ nói rằng cảnh sát đang hỏi chuyện những người từng mất người thân vào khoảng năm 1970.

Ít lâu trước Giáng sinh năm ngoái, Valgerdur phát hiện chồng mình đã qua lại với một người phụ nữ khác suốt hai năm. Cô biết chuyện này từng xảy ra một lần trước đó, nhưng như lời ông ta nói, lần ấy “không nghiêm trọng” đến thế.

Cô nói với ông rằng mình sẽ bỏ ông. Ông lập tức chấm dứt chuyện ngoại tình. Từ đó đến nay, không có chuyện gì xảy ra thêm.

- Valgerdur...? - Erlendur mở lời.

- Anh đã đến thăm Eva Lind trong thời gian nó điều trị, - cô vội đáp, như thể biết Erlendur định nói gì.

- Ừ, anh đã gặp nó.

- Nó có nhớ chuyện bị bắt không?

- Không, anh nghĩ nó chẳng nhớ gì cả. Bọn anh không nói đến chuyện đó.

- Tội nghiệp con bé.

- Em định tiếp tục ở với ông ta sao? - Erlendur hỏi.

Valgerdur nhấp một ngụm rượu tiêu cơm.

- Khó lắm, - cô đáp.

- Vậy à?

- Em chưa sẵn sàng kết thúc mọi chuyện, - cô nói, nhìn thẳng vào mắt Erlendur. - Nhưng em cũng không muốn từ bỏ anh.

Tối hôm đó, khi Erlendur về đến nhà, Sindri Snaer đang nằm trên ghế sofa, vừa xem ti-vi vừa hút thuốc. Cậu gật đầu chào cha rồi lại tiếp tục theo dõi chương trình. Erlendur có cảm giác cậu đang xem phim hoạt hình.

Ông đã đưa cho con trai một chiếc chìa khóa căn hộ, nên Sindri có thể đến bất cứ lúc nào, dù Erlendur chưa bao giờ cho phép cậu ngủ lại nhà mình.

- Con tắt cái đó đi được không? - ông hỏi, vừa cởi áo mưa.

Sindri đứng dậy tắt ti-vi.

- Con chẳng tìm thấy cái điều khiển đâu cả, - cậu nói. - Cái ti-vi này cổ lỗ sĩ như thời vua Hêrôđê ấy nhỉ?

- Không, nó mới khoảng hai mươi năm thôi, - Erlendur đáp. - Với lại ba có mấy khi xem đâu.

- Hôm nay Eva gọi cho con, - Sindri nói, dụi tắt điếu thuốc. - Cái ông cảnh sát bắt nó là đồng nghiệp của ba à?

- Ừ, Sigurdur Oli. Nó đánh ông ta bằng búa. Nó định đập vào đầu ông ta, nhưng lại trúng vai. Ông ta cũng đã định kiện nó về tội hành hung và cản trở cảnh sát thi hành nhiệm vụ.

- Rồi ba xin cho nó đi cai nghiện thay vì để ông ta kiện?

- Nó vẫn luôn từ chối đi cai. Sigurdur Oli đã làm ơn không kiện nó.

Một tay buôn ma túy tên Eddi dính líu đến một vụ án ma túy. Sigurdur Oli cùng hai cảnh sát hình sự khác tìm thấy hắn trong một ổ dân nghiện ngay phía trên quảng trường Hlemmur, không xa đồn cảnh sát trên phố Hverfisgata. Một người quen của Eddi đã gọi báo cảnh sát.

Chỉ mình Eva Lind chống trả. Cô phê thuốc nặng đến mức chẳng còn biết mình đang ở đâu. Eddi nằm bất động, gần như khỏa thân, trên một chiếc sofa. Một cô gái khác, trẻ hơn Eva Lind, hoàn toàn khỏa thân nằm đè lên người hắn.

Eva mất bình tĩnh khi nhìn thấy cảnh sát. Cô biết Sigurdur Oli là ai. Cô biết anh làm việc cùng cha mình. Cô chộp lấy một chiếc búa nằm dưới đất, định đập vào đầu Sigurdur Oli. Cô đánh trượt, nhưng làm gãy xương đòn của anh. Cơn đau không chịu nổi khiến Sigurdur Oli quỵ xuống. Cô đang chuẩn bị giáng cú thứ hai thì những cảnh sát còn lại lao vào khống chế, ghì cô xuống đất.

Sigurdur Oli không hề nhắc đến chuyện đó, nhưng Erlendur nghe những cảnh sát khác kể rằng ông đã có một thoáng do dự khi thấy Eva Lind lao vào tấn công mình. Cô là con gái Erlendur, ông không muốn làm cô bị thương. Chính vì thế cô mới đánh trúng ông.

- Tôi cứ nghĩ sau khi mất con, nó sẽ tự chấn chỉnh lại, - Erlendur nói. - Nhưng nó còn tệ hơn trước. Bây giờ trông nó như chẳng còn quan tâm đến bất cứ chuyện gì nữa.

- Con muốn đến thăm nó, - Sindri nói. - Nhưng họ không cho thăm.

- Ba sẽ nói chuyện với họ.

Điện thoại reo. Erlendur nhấc máy.

- Erlendur đấy à? - một giọng nói mệt mỏi vang lên ở đầu dây bên kia.

Erlendur nhận ra ngay giọng nói ấy.

- Marion?

- Chính xác thì các anh tìm thấy gì ở Kleifarvatn? - Marion Briem hỏi.

- Một bộ xương, - Erlendur đáp. - Chẳng có gì phải lo đâu.

- Ừ, ừ, - Marion đáp. Dù đã nghỉ hưu, bà vẫn khó lòng thôi quan tâm đến Erlendur và những vụ án hấp dẫn ông đang điều tra.

Một khoảng im lặng dài.

- Bà gọi tôi có chuyện gì đặc biệt à? - Erlendur hỏi.

- Có lẽ anh nên để ý kỹ hơn một chút đến Kleifarvatn, - Marion khuyên. - Nhưng tôi không muốn làm phiền anh đâu. Hoàn toàn không có ý đó. Tôi chẳng muốn quấy rầy một đồng nghiệp cũ đang bận tối mắt với những chuyện rắc rối của riêng mình.

- Hồ Kleifarvatn có gì đặc biệt sao? - Erlendur hỏi. - Bà muốn nói gì?

- Chẳng có gì cả. Chào anh, - Marion đáp, rồi cúp máy ngang.


CHƯƠNG 7

Đôi khi, mỗi khi nhớ lại quãng thời gian ấy, anh vẫn cảm thấy như ngửi thấy mùi của trụ sở Dittrichring: cái mùi ngột ngạt của vải sàn lino bẩn thỉu, mồ hôi và sợ hãi. Anh cũng nhớ cái mùi ô nhiễm khét lẹt của than đá lơ lửng trên thành phố, có những lúc gần như che khuất cả mặt trời.

Leipzig hoàn toàn không giống như anh đã hình dung. Trước khi lên đường, anh đã tìm hiểu về thành phố và biết nó nằm nơi hợp lưu của ba con sông Elster, Parthe và Pleisse. Anh cũng biết đây từng là một trung tâm lâu đời của ngành xuất bản và sách vở ở Đức. Bach được chôn cất tại đây, và chính thành phố này có quán rượu Auerbachkeller nổi tiếng, nơi Goethe đã lấy làm nguyên mẫu cho tác phẩm Faust. Nhà soạn nhạc người Iceland Jon Leifs từng học nhạc và sống ở đây vài năm. Anh đã tưởng tượng ra một trong những thành phố cổ kính của nước Đức, nơi văn hóa chất chứa qua bao thế kỷ. Thế nhưng, trước mắt anh chỉ là một thành phố hậu chiến buồn tẻ và ảm đạm. Leipzig từng bị quân Đồng minh chiếm đóng trước khi nằm dưới quyền cai trị của Liên Xô; trên những tòa nhà vẫn còn thấy dấu đạn, những ngôi nhà đổ nát phân nửa - những phế tích của chiến tranh.

Tàu đến nơi vào lúc đêm đã khuya. Anh gửi va-li ở phòng giữ hành lý của nhà ga rồi đi lang thang ngoài phố cho đến khi thành phố bắt đầu thức giấc. Điện bị thiếu hụt. Khu trung tâm tối om, nhưng anh vẫn sung sướng vì đã tới được Leipzig. Anh có cảm giác mình đang ở giữa một câu chuyện cổ tích, một mình, xa nhà đến thế. Anh đi lên nhà thờ Thánh Nicolas, rồi khi tới nhà thờ Thánh Thomas, anh ngồi xuống một chiếc ghế dài đối diện với nhà thờ, nhớ lại những lời hai nhà thơ Halldor và Johann từng viết sau khi đến thăm nơi này nhiều năm trước. Trời vừa rạng sáng, và anh hình dung hai người ngước mắt nhìn nhà thờ Thánh Thomas với vẻ thán phục, rồi tiếp tục cuộc dạo chơi.

Một cô gái bán hoa còn trẻ đi ngang qua anh, mời anh mua một bó hoa. Không có ai để tặng, anh chỉ mỉm cười như một lời xin lỗi.

Anh nóng lòng muốn biết tương lai dành cho mình những gì. Nóng lòng được tự lập, được tự quyết định số phận mình. Anh chẳng biết điều gì đang chờ đợi phía trước, nhưng muốn đón nhận tất cả với một tâm hồn rộng mở. Anh biết mình sẽ không nhớ nhà, bởi anh đang bước vào một cuộc phiêu lưu sẽ có ý nghĩa quyết định đối với phần đời còn lại. Anh biết việc học sẽ khó khăn, nhưng chẳng hề ngại khó. Ngành kỹ sư đặc biệt hấp dẫn anh, và anh biết mình sẽ làm quen với những người mới, kết bạn với những người bạn mới. Anh nóng lòng chờ ngày khai giảng.

Anh đi giữa những đống đổ nát, bước dọc các con phố dưới một màn mưa bụi nhẹ. Một nụ cười thoáng hiện trên môi khi anh hình dung hai người bạn năm xưa từng đi trên chính những con phố này.

Khi trời sáng rõ, anh đi lấy va-li rồi đến trường đại học; anh chẳng mấy khó khăn đã tìm được phòng đăng ký nhập học. Người ta chỉ cho anh khu ký túc xá nằm không xa tòa nhà chính. Khu ký túc xá là một ngôi biệt thự cổ kính, trông rất đáng nể, nay được dành cho các hoạt động của trường đại học. Anh phải ở chung phòng với hai sinh viên khác. Người thứ nhất tên Emil, một bạn học cùng lớp với anh hồi trung học. Người ta bảo người kia đến từ Tiệp Khắc. Cả hai đều không có mặt trong phòng.

Tòa nhà có ba tầng; tầng giữa có một phòng vệ sinh dùng chung và một nhà bếp. Tường phủ giấy dán tường cũ, nhiều chỗ đã bong ra từng mảng. Sàn gỗ bẩn thỉu, mùi ẩm mốc phảng phất trong căn phòng kê ba chiếc giường đơn và một chiếc bàn cũ. Một bóng đèn trần trơ trụi treo lủng lẳng trên cái trần vốn từng được trát vữa, nhưng phần lớn lớp vữa đã bong xuống, để lộ những tấm ván gỗ mốc meo. Có hai cửa sổ; một cửa đã được đóng ván vì kính bị vỡ.

Những sinh viên còn ngái ngủ lục tục bước ra khỏi phòng. Một hàng người đã hình thành trước nhà vệ sinh. Có người ra ngoài đi tiểu. Một ai đó đã đổ đầy nước vào một cái nồi, đang đun trên một chiếc bếp cổ lỗ sĩ. Ngay bên cạnh là một cái lò cũ.

Anh đưa mắt nhìn quanh phòng, tìm bạn mình. Anh nhìn đám người trong bếp và chợt nhận ra ký túc xá này có cả con trai lẫn con gái.

Một cô gái tiến lại gần, lên tiếng hỏi anh bằng tiếng Đức. Anh đã học tiếng Đức ở trung học nhưng không hiểu cô nói gì. Bằng thứ tiếng Đức hơi cứng nhắc của mình, anh xin cô nói chậm lại.

- Anh đang tìm ai à? - cô gái hỏi.

- Vâng, tôi tìm Emil, một người Iceland.

- Anh cũng từ Iceland tới à?

- Vâng, còn cô từ đâu tới?

- Từ Dresden. Tôi tên Maria.

- Tôi là Tomas, - anh đáp, rồi hai người bắt tay nhau.

- Tomas à? - cô gái nhắc lại. - Ở đây có mấy người Iceland, đều học ở trường đại học. Họ thường tụ tập ở chỗ Emil. Có khi bọn tôi còn phải đuổi họ ra vì họ hát oang oang đến tận nửa đêm. Anh nói tiếng Đức khá lắm.

- Cảm ơn. Tôi học ở trung học. Cô biết Emil ở đâu không?

- Chắc anh ấy đang đi săn chuột, - cô đáp. - Ở dưới hầm. Ở đây chuột lúc nhúc khắp nơi. Anh uống trà không? Người ta đang sửa soạn mở một căn-tin ở tầng trên, nhưng trong lúc chờ đợi thì chúng ta phải tự lo liệu lấy.

- Đi săn chuột?!

- Chúng ra ngoài ban đêm. Lúc ấy dễ bắt nhất.

- Nhiều đến thế sao?

- Giết được mười con thì lại có hai mươi con tới. Dù sao bây giờ cũng còn đỡ hơn hồi chiến tranh.

Anh bất giác cúi mắt nhìn xuống sàn, như thể chờ thấy chúng chạy qua giữa chân mọi người. Nếu có một thứ khiến anh ghê tởm thì đó chính là chuột.

Anh cảm thấy có người khẽ vỗ vào vai. Quay lại, anh thấy bạn mình đang đứng phía sau, mỉm cười. Emil cầm đuôi hai con chuột to tướng, giơ chúng lên. Tay kia anh ta cầm một chiếc xẻng lớn.

- Muốn giết chúng thì dùng xẻng là tiện nhất, - Emil giải thích.

Anh nhanh chóng thích nghi một cách đáng kinh ngạc với những điều kiện mới: mùi ẩm mốc, mùi nhà vệ sinh ở tầng giữa lan khắp tòa nhà, mùi mốc meo từ những chiếc giường đơn, tiếng ghế kẽo kẹt và chiếc bếp kiểu cũ. Chỉ có điều anh không để tâm quá nhiều đến tất cả những chuyện ấy, vì biết công cuộc tái thiết sau chiến tranh cần rất nhiều thời gian.

Trường đại học rất tốt, mặc dù không được trang bị đầy đủ. Các giáo sư có trình độ, sinh viên thú vị, và anh học hành rất khá. Anh làm quen với những sinh viên ngành kỹ sư đến từ Leipzig, từ những thành phố khác của Đức và từ các nước láng giềng, phần lớn là các nước Đông Âu. Một số người, cũng như anh, là sinh viên nhận học bổng của chính phủ Đông Đức.

Ngoài ra, những người theo học tại Đại học Karl Marx dường như đến từ khắp nơi trên thế giới. Chẳng bao lâu sau, anh làm quen với những người Việt Nam, người Cuba, người Trung Quốc, những người thường giữ khoảng cách với những người khác. Cũng có những người Niger, và căn phòng bên cạnh phòng anh trong ngôi biệt thự cổ có một người Ấn Độ rất dễ mến tên Deependra.

Nhóm nhỏ người Iceland có mặt trong thành phố thường dành rất nhiều thời gian bên nhau. Karl, lớn lên ở một cảng cá nhỏ, học báo chí. Khoa của anh ta được gọi là Cloître rouge - Tu viện Đỏ - và người ta đồn rằng chỉ những ai tuân theo đường lối cứng rắn nhất của Đảng mới được nhận vào đó.

Rut đến từ Akureyri, nơi cô đã học trung học. Cô từng là bí thư thứ nhất của phong trào thanh niên trong thành phố và đang học văn chương, chuyên ngành văn học Nga. Hrafnhildur học văn học Đức, còn Emil, quê ở miền tây bắc Iceland, học kinh tế.

Phần lớn trong số họ, bằng cách này hay cách khác, đã được Đảng Cộng sản Iceland lựa chọn để nhận học bổng và sang tiếp tục việc học tại một trường đại học Đông Đức. Buổi tối, họ tụ tập chơi bài, nghe những đĩa nhạc jazz của người Ấn Độ Deependra, hoặc kéo nhau tới một trong những quán bar quanh đó, nơi họ hát những bài ca Iceland.

Trường đại học có một câu lạc bộ điện ảnh rất năng động. Ở đó, họ đã xem Chiến hạm Potemkin, rồi thảo luận về ảnh hưởng của điện ảnh như một phương tiện tuyên truyền. Họ bàn chuyện chính trị với những sinh viên khác. Họ buộc phải tham dự các cuộc họp cũng như những buổi thuyết trình của hội sinh viên trường đại học, FDJ - Freie Deutsche Jugend - hội đoàn duy nhất được phép hoạt động trong trường.

Tất cả đều khao khát tạo dựng một thế giới mới, một thế giới tốt đẹp hơn.

Tất cả, trừ một người.

Hannes là người đã ở Leipzig lâu nhất. Mãi hai tháng sau anh mới gặp được anh ta. Ở Reykjavik, anh từng nghe rất nhiều lời ca ngợi về Hannes và biết Đảng dành cho anh ta một vai trò quan trọng. Bí thư thứ nhất của Đảng từng nhắc đến tên Hannes trong một cuộc họp tòa soạn, nói rằng đó là một người sẽ còn tiến rất xa.

Cũng như anh, Hannes từng làm báo cho cơ quan ngôn luận của Đảng, và anh cũng đã nghe những giai thoại về Hannes ngay tại tòa soạn. Ở Reykjavik, anh từng dự một buổi họp nơi Hannes phát biểu; anh đã bị chinh phục bởi nhiệt huyết của người ấy, bởi những điều anh ta nói về nền dân chủ Iceland - thứ mà bọn cao bồi Mỹ đã mua bằng những của cải chúng kiếm được nhờ chiến tranh - và về những chính khách Iceland chẳng qua chỉ là những con rối để bọn đế quốc Mỹ giật dây.

“Dân chủ ở đất nước này chỉ là đồ cứt, chừng nào quân đội Mỹ còn làm ô uế đất Iceland!” - Hannes đã hét lên giữa một tràng pháo tay như sấm.

Trong những năm đầu Hannes ở Đông Đức, anh ta viết cho cơ quan ngôn luận của Đảng một chuyên mục có tên “Thư từ phương Đông”, mô tả những điều kỳ diệu của nhà nước cộng sản. Nhưng sau một thời gian, chuyên mục ấy không còn xuất hiện nữa.

Những người Iceland khác trong thành phố cũng chẳng có gì nhiều để nói về Hannes. Anh ta dần dần xa cách họ và phần lớn thời gian sống tách biệt. Thỉnh thoảng họ có nhắc đến chuyện ấy, rồi nhún vai như thể chuyện đó chẳng liên quan gì đến mình.

Một hôm, anh tình cờ gặp Hannes trong thư viện trường đại học. Trời đã về chiều, trong phòng đọc không còn nhiều sinh viên, và Hannes đang chúi mũi vào những giáo trình. Bên ngoài trời lạnh và ẩm. Đôi khi thư viện lạnh đến mức hơi nước bốc ra từ miệng người ta mỗi khi họ nói chuyện. Hannes ngồi đó, quấn kín trong chiếc áo khoác, đội chiếc mũ có phần che tai.

Thư viện, vốn chỉ mới được sử dụng một phần, đã chịu thiệt hại nặng nề trong những trận oanh tạc.

- Anh tên Hannes, phải không? - anh hỏi bằng giọng thân thiện. - Chúng ta chưa từng gặp nhau.

Hannes ngẩng đầu khỏi những cuốn sách.

- Tôi là Tomas, - anh nói tiếp, chìa tay ra.

Hannes nhìn anh chằm chằm, nhìn bàn tay đang chìa ra rồi lại cúi xuống đọc tiếp.

- Để tôi yên, - anh ta ra lệnh.

Anh giật mình. Anh không ngờ một người đồng hương lại đón tiếp mình như vậy, càng không ngờ người ấy lại là một người được mọi người kính trọng đến thế và chính anh cũng từng bị chinh phục.

- Xin lỗi anh, - anh nói tiếp. - Tôi không định làm phiền anh. Dĩ nhiên, anh đang bận học.

Hannes không trả lời mà tiếp tục ghi chép vào những cuốn sách đang mở trên bàn. Anh ta viết rất nhanh bằng bút chì và đeo găng tay không ngón để giữ ấm.

- Tôi chỉ nghĩ không biết hôm nào chúng ta có thể cùng đi uống cà phê, - anh đề nghị, - hoặc uống một cốc bia.

Hannes không đáp. Anh đứng bên cạnh, chờ một phản ứng, nhưng không thấy gì. Anh từ từ lùi khỏi bàn rồi quay gót. Anh sắp khuất sau một trong những dãy kệ sách thì Hannes ngẩng đầu khỏi những cuốn sách cũ kỹ và cuối cùng cũng lên tiếng.

- Tomas, anh nói gì cơ?

- Vâng, chúng ta chưa từng gặp nhau, nhưng tôi có nghe...

- Tôi biết anh là ai, - Hannes ngắt lời. - Trước kia tôi cũng từng như anh. Anh muốn gì ở tôi?

- Không có gì, - anh đáp. - Tôi chỉ muốn chào anh thôi. Tôi ngồi ở phía bên kia, nhìn thấy anh nên chỉ muốn lại chào một tiếng. Tôi từng dự một buổi họp mà anh...

- Anh thấy Leipzig thế nào? - Hannes ngắt lời.

- Lạnh chết đi được, ăn uống chẳng ra gì, nhưng trường đại học thì tốt. Và điều đầu tiên tôi sẽ làm khi trở về Iceland là đấu tranh để người ta cho phép bán bia.

Hannes mỉm cười.

- Đúng vậy. Bia là thứ ngon nhất ở thành phố này.

- Hay là hôm nào hai ta cùng đi uống một vại?

- Có thể, - Hannes đáp rồi quay lại với việc đọc sách, qua đó kết thúc cuộc trò chuyện.

- Anh nói “trước kia tôi cũng từng như anh” nghĩa là sao? - anh dè dặt hỏi. - Anh muốn ám chỉ điều gì?

- Chẳng có gì, - Hannes đáp, ngẩng đầu khỏi sách nhìn anh. Anh nhận thấy nơi Hannes có một chút do dự. Rồi, như thể chẳng quan tâm Tomas nghĩ gì, Hannes nói thêm: - Đừng để ý những gì tôi nói. Chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho anh đâu.

Bối rối, Tomas rời thư viện, bước ra ngoài trời giá lạnh mùa đông. Trên đường về ký túc xá, anh gặp Rut và Emil. Họ vừa tới bưu điện lấy một gói hàng Rut nhận từ Iceland. Đó là một gói thực phẩm mà cả bọn đang nóng lòng chờ được thưởng thức. Anh không nhắc đến cuộc trò chuyện với Hannes; vả lại, anh cũng chẳng hiểu Hannes muốn ám chỉ điều gì.

- Lothar tìm cậu đấy, - Emil báo. - Tôi bảo cậu đang ở thư viện.

- Tôi không gặp anh ta. Cậu biết anh ta muốn gì không?

- Chịu.

Lothar là người mà người ta gọi là Betreuer của anh, nghĩa là người phụ trách, người giám hộ. Tất cả sinh viên ngoại quốc đến học ở trường đều có một người giám hộ như vậy, người mà họ có thể hỏi ý kiến và nhờ giúp đỡ để cuộc sống dễ dàng hơn.

Lothar đã kết thân với những người Iceland trong ký túc xá. Anh ta từng đề nghị đưa họ đi tham quan thành phố, chỉ cho họ những địa điểm chính. Anh ta giúp họ ở trường đại học, thậm chí đôi khi còn trả tiền sau những lần họ tới quán rượu Auerbach. Anh ta muốn sang Iceland để học văn học Iceland; anh ta thông thạo tiếng Iceland và thậm chí còn có thể hát những bài hát mà ai cũng biết. Anh ta nói mình quan tâm đến các saga Iceland; anh ta đã đọc Njáls saga và muốn dịch tác phẩm ấy.

- Kìa, tòa nhà nổi tiếng ấy, - Rut đột nhiên lên tiếng khi dừng lại. - Kia là văn phòng, và bên trong còn có cả xà lim.

Cả bọn ngước nhìn lên đỉnh tòa nhà. Đó là một tòa nhà bằng đá, u ám, cao bốn tầng. Tất cả các cửa sổ tầng trệt đều bị đóng ván ép. Anh nhìn thấy tên con phố: Dittrichring. Số 24.

- Xà lim? Tòa nhà này là gì vậy? - anh hỏi.

- Cảnh sát chính trị, - Emil đáp khẽ, như thể sợ có ai nghe thấy.

- Trụ sở Stasi, - Rut nói thêm.

Anh lại đưa mắt quét khắp tòa nhà. Ánh đèn đường nhợt nhạt phủ lên những bức tường đá và ô cửa sổ một thứ ánh sáng đáng ngại. Một cơn rùng mình nhẹ chạy dọc người anh. Anh cảm thấy mình sẽ chẳng bao giờ muốn bước qua cánh cửa tòa nhà này. Nhưng dĩ nhiên, lúc ấy anh chưa thể biết được rằng ý muốn của mình sẽ có ít sức nặng đến thế nào trước ý chí của họ.

Anh thở dài thật sâu và nhìn một chiếc thuyền buồm nhỏ lướt qua ngoài xa trên mặt biển.

Nhiều chục năm sau, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, anh trở lại trụ sở của cảnh sát chính trị. Ngay lập tức, anh nhận ra cái mùi từ quá khứ ùa về, khiến anh buồn nôn chẳng khác gì mùi con chuột từng mắc kẹt trong một đường ống phía sau lò sưởi của ký túc xá. Con chuột ấy đã bị nung đi nung lại mà không ai hay biết, cho đến khi ngôi biệt thự cổ trở nên không thể ở được vì mùi hôi thối khủng khiếp.


CHƯƠNG 8

Erlendur nhìn Marion. Bà ngồi trên chiếc ghế bành trong phòng khách, đeo mặt nạ nhựa trên mặt và hít oxy. Lần cuối ông gặp người cấp trên cũ ở phòng Hình sự là vào dịp Giáng sinh, khi ấy ông không hề biết bà đang bệnh. Ông hỏi các đồng nghiệp và được biết phổi bà đã bị tàn phá bởi hàng chục năm hút thuốc liên miên, còn một cục máu đông đã khiến bà bị liệt bên phải, từ cánh tay đến một phần khuôn mặt.

Trong căn hộ tối mờ mặc dù bên ngoài trời nắng, một lớp bụi dày đã phủ lên đồ đạc. Mỗi ngày một người hộ lý đến chăm sóc Marion một lần. Người hộ lý ấy đang chuẩn bị ra về thì Erlendur tới.

Ông ngồi xuống chiếc sofa êm ái đối diện Marion và nhận thấy người đồng nghiệp cũ của mình đã yếu đến mức nào. Bà gần như chỉ còn da bọc xương. Cái đầu to nặng nề của bà chầm chậm lắc lư trên thân hình bệnh tật. Từng đường xương trên khuôn mặt đều lộ rõ, đôi mắt hõm sâu trong hốc mắt. Mái tóc vàng úa rối bù. Ánh mắt Erlendur dừng lại trên những ngón tay vàng khè vì thuốc lá, với những móng tay quắt queo, đặt trên tay vịn đã sờn của chiếc ghế bành. Marion đang ngủ.

Người hộ lý đã cho Erlendur vào, và ông ngồi im lặng chờ Marion thức giấc. Ông lại nhớ đến ngày đầu tiên mình vào làm ở phòng Hình sự, đã bao nhiêu năm về trước.

- Anh có chuyện gì vậy? - đó là câu đầu tiên Marion hỏi ông. - Anh chẳng bao giờ cười sao?

Ông không biết trả lời thế nào. Ông cũng chẳng biết phải trông đợi điều gì ở cái người đàn bà nhỏ thó kỳ quặc này, lúc nào cũng bị bao phủ bởi một đám khói xanh cay nồng và không bao giờ chịu rời điếu Camel khỏi môi.

- Tại sao anh muốn điều tra những vụ án? - Marion hỏi tiếp, thấy Erlendur không trả lời. - Sao anh không tiếp tục điều khiển giao thông?

- Tôi nghĩ mình có thể giúp ích được chút gì đó, - Erlendur đáp.

Căn phòng nhỏ chật ních giấy tờ và hồ sơ; trên bàn là một cái gạt tàn to tướng đầy những mẩu thuốc. Không khí đặc quánh khói thuốc, nhưng Erlendur chẳng thấy khó chịu. Ông cũng hút thuốc, nên lấy một điếu ra.

- Anh có đặc biệt quan tâm đến các vụ án không? - Marion hỏi.

- Một số vụ thì có, - Erlendur đáp, lấy một hộp diêm trong túi ra.

- Một số vụ?

- Tôi quan tâm đến những vụ mất tích, - Erlendur nói rõ.

- Những vụ mất tích? Tại sao?

- Tôi quan tâm đến chuyện đó từ lâu rồi. Tôi...

Erlendur ngập ngừng.

- Sao? Anh định nói gì? - Marion hút hết điếu này đến điếu khác. Bà châm một điếu Camel mới bằng đầu mẩu thuốc vẫn còn đỏ lửa của điếu trước, rồi ném mẩu thuốc ấy vào đống tàn thuốc trong gạt tàn. - Ngập ngừng cái gì? Anh định nói toạc ra hay sao? Nếu đi làm mà cũng cứ ấp úng như thế thì tôi chẳng làm việc với anh được đâu. Nào, nói đi!!

- Tôi nghĩ có lẽ những vụ mất tích thường liên quan đến các vụ án nhiều hơn người ta vẫn tưởng, - Erlendur đáp. - Nhưng tôi chẳng có bằng chứng gì để chứng minh điều đó. Chỉ là một cảm giác thôi.

Erlendur sực tỉnh. Ông nhìn Marion đang hít oxy. Ông liếc qua cửa sổ phòng khách.

Chỉ là một cảm giác thôi, ông nghĩ.

Marion Briem từ từ mở mắt và nhận ra Erlendur đang ngồi trên sofa. Ánh mắt hai người gặp nhau. Marion tháo mặt nạ oxy ra.

- Vậy là mọi người đã quên tiệt mấy tên cộng sản chết tiệt đó rồi sao? - Marion hỏi bằng giọng khàn khàn. Miệng bà hơi méo vì di chứng của cơn tai biến, giọng nói nghe nghèn nghẹn.

- Bà thấy trong người thế nào? - Erlendur hỏi.

Marion thoáng mỉm cười. Hoặc có lẽ đó chỉ là một cái nhăn mặt.

- Tôi sống hết năm nay được thì cũng là một phép lạ.

- Sao bà không nói gì với tôi?

- Nói để làm gì? Anh kiếm cho tôi được một đôi phổi mới chắc?

- Ung thư à?

Marion gật đầu.

- Bà hút thuốc nhiều quá đấy, - Erlendur nói.

- Có điếu thuốc nào mà tôi lại chịu từ chối đâu, - Marion thừa nhận.

Bà đeo lại mặt nạ, nhìn Erlendur như thể chờ ông lấy bao thuốc ra. Erlendur lắc đầu. Chiếc ti-vi ở góc phòng đang bật, người bệnh liếc nhanh lên màn hình. Rồi mặt nạ lại rơi xuống.

- Vụ bộ xương tiến triển tới đâu rồi? Chẳng lẽ mọi người quên hết mấy tên cộng sản rồi sao?

- Chuyện đó thì liên quan gì đến cộng sản?

- Sếp của anh hôm qua đến chào tôi, hay đúng hơn là đến từ biệt. Tôi chưa bao giờ ưa cái thằng cha khoe khoang ấy, và chẳng hiểu tại sao anh lại không chịu nhận chức lãnh đạo. Anh giải thích chuyện đó thế nào? Nói tôi nghe xem? Lẽ ra từ lâu anh đã có thể ngồi mát ăn bát vàng cả ngày với mức lương gần gấp đôi rồi.

- Chẳng có gì để giải thích cả, - Erlendur đáp.

- Ông ta lỡ lời để lộ rằng bộ xương được buộc vào một máy phát của Nga.

- Ừ, chúng tôi cũng nghĩ nó được sản xuất ở Nga và là một máy phát.

- Anh cho tôi một điếu thuốc, được không?

- Không.

- Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa. Anh tưởng chuyện đó còn thay đổi được gì sao?

- Tôi không cho bà thuốc đâu. Bà gọi tôi tới đây vì chuyện đó à? Để tôi giúp bà kết liễu luôn cho rồi? Sao bà không yêu cầu tôi bắn một phát vào đầu bà cho xong?

- Anh làm vậy vì tôi được không?

Erlendur mỉm cười, và trên gương mặt Marion thoáng hiện một vẻ vui thích.

- Cục máu đông này càng làm mọi chuyện tệ hơn. Tôi nói năng như một con ngốc, tay cũng khó cử động.

- Chuyện mấy tên cộng sản là thế nào? - Erlendur hỏi.

- Chuyện đó xảy ra mấy năm trước khi anh vào làm chỗ chúng tôi. Mà này, anh bắt đầu làm từ năm nào nhỉ?

- Năm 1977, - Erlendur đáp.

- Anh từng nói với tôi rằng anh quan tâm đến những vụ mất tích, tôi nhớ mà, - Marion Briem nói tiếp.

Mặt bà co rúm lại vì đau. Bà đeo mặt nạ oxy lên và nhắm mắt. Một lúc lâu trôi qua như vậy. Erlendur đưa mắt quan sát căn phòng. Căn hộ này khiến ông khó chịu vì gợi ông nhớ đến chính căn nhà của mình.

- Bà có muốn tôi đi gọi ai không? - ông hỏi. - Bác sĩ chẳng hạn?

- Không, đừng gọi ai cả, - Marion đáp, tháo mặt nạ ra. - Lát nữa anh giúp tôi pha cà phê nhé. Tôi chỉ cần một chút thời gian để hồi sức thôi. Nhưng anh nên nhớ lại chuyện chúng ta tìm thấy những thiết bị ấy mới phải.

- Thiết bị nào?

- Ở hồ Kleifarvatn ấy. Chẳng lẽ chẳng còn ai nhớ gì nữa sao?

Marion nhìn ông rồi bắt đầu kể, bằng một giọng yếu ớt, đều đều, về việc phát hiện những thiết bị dưới hồ Kleifarvatn.

Erlendur chợt hiểu bà đang nói đến chuyện gì. Ông chỉ còn nhớ mang máng về vụ ấy, nên chưa bao giờ nghĩ rằng nó có thể liên quan đến bộ xương. Đáng lẽ ông phải nghĩ đến điều đó ngay lập tức.

- Ngày 10 tháng Chín năm 1973, điện thoại reo tại đồn cảnh sát Hafnarfjördur. Hai người nhái từ Reykjavik - hồi đó người ta gọi thợ lặn như thế, - Marion nói thêm với một nụ cười tinh nghịch dù đang đau đớn, - hai người nhái ấy phát hiện cả một loạt thiết bị ở một khu vực ít người lui tới trong hồ. Chúng nằm ở độ sâu mười mét. Chẳng bao lâu sau người ta phát hiện phần lớn chúng được sản xuất ở Nga, và người ta đã cố xóa những dòng chữ Cyrillic trên đó. Nhân viên Bưu điện Viễn thông được mời đến kiểm tra và kết luận đó là đủ loại thiết bị truyền tin và nghe lén. Có cả một đống thứ linh tinh, - Marion Briem nói thêm. - Máy ghi âm, vài cái radio, rồi cả máy phát.

- Bà là người phụ trách vụ đó à?

- Tôi có mặt ở hồ khi họ vớt tất cả những thứ ấy lên, nhưng không phải tôi chỉ huy cuộc điều tra. Vụ này gây xôn xao dữ lắm. Chiến tranh Lạnh đang ở vào thời kỳ căng thẳng nhất, và hoạt động gián điệp của người Nga ở Iceland đã được xác nhận. Dĩ nhiên người Mỹ cũng làm gián điệp, nhưng họ là bạn mình. Người Nga mới là kẻ thù.

- Máy phát?

- Ừ, và cả thiết bị nghe lén. Người ta phát hiện một số cái được chỉnh vào tần số của căn cứ Mỹ trên vùng đất hoang Midnesheidi.

- Bà có nghĩ những thiết bị đó liên quan đến bộ xương tìm thấy trong hồ không?

- Còn anh thì nghĩ sao? - Marion Briem hỏi, rồi lại nhắm mắt.

- Cũng có thể.

- Đừng quên khả năng ấy, - Marion khuyên, mệt lả và nhăn mặt.

- Tôi có thể làm gì cho bà không? - Erlendur hỏi. - Bà muốn tôi mang thứ gì tới không?

- Ngày trước, thỉnh thoảng tôi có thuê phim cao bồi miền Tây, - Marion đáp sau một hồi im lặng, vẫn ngồi đó, mắt nhắm nghiền.

Erlendur không chắc mình có nghe đúng không.

- Phim cao bồi, - ông nhắc lại. - Ý bà là phim western?

- Ừ, anh mang cho tôi một bộ phim western hay được không?

- Thế nào mới là một bộ phim western hay?

- Có John Wayne đóng, - Marion nói rồi im lặng.

Erlendur ngồi bên cạnh chiếc ghế bành thật lâu, phòng khi Marion tỉnh lại. Buổi sáng đã trôi qua khá lâu. Ông vào bếp pha cà phê, chuẩn bị hai tách. Ông nhớ Marion uống cà phê đen, không đường, giống như ông. Ông đặt hai tách cạnh chiếc ghế bành của Marion. Ông chẳng biết còn có thể làm gì hơn nữa.

Phim cao bồi! ông nghĩ thầm khi bước ra khỏi tòa nhà.

- Không thể tin được, - ông tự nói thành tiếng khi nổ máy xe.

Buổi chiều hôm ấy, Sigurdur Oli vào ngồi trong phòng làm việc của Erlendur. Người đàn ông nọ lại gọi điện cho anh vào giữa đêm, nói rằng muốn tự tử. Sigurdur đã cho một xe cảnh sát đến nhà ông ta, nhưng chẳng có ai ở đó. Người đàn ông ấy sống một mình trong một căn nhà nhỏ. Theo yêu cầu của Sigurdur Oli, cảnh sát đã phá cửa xông vào, nhưng căn nhà trống không.

- Sáng nay ông ta gọi lại cho tôi, - Sigurdur Oli kể xong câu chuyện thì nói. - Ông ta đã về nhà. Chẳng có chuyện gì xảy ra cả, nhưng tôi bắt đầu chán ngấy cái gã này rồi.

- Là gã mất vợ và con đó à?

- Ừ, và ông ta cứ khăng khăng cho rằng mình phải chịu trách nhiệm, theo một cái lý luận chẳng ai hiểu nổi. Ông ta không chịu nghe bất cứ điều gì khác.

- Chuyện xảy ra chỉ là một sự tình cờ đáng tiếc thôi, phải không?

- Không, trong đầu ông ta thì không phải vậy.

Sigurdur Oli từng có một thời gian ngắn làm việc ở bộ phận cảnh sát chuyên điều tra các tai nạn giao thông. Một chiếc xe jeep lớn đã tông vào sườn một chiếc xe du lịch tại một trong những ngã tư của đại lộ Breidholtsbraut, khiến một bà mẹ và cô con gái năm tuổi thiệt mạng. Cô bé ngồi ở băng sau, đã thắt dây an toàn. Người lái chiếc jeep say rượu và vượt đèn đỏ.

Chiếc xe của hai mẹ con là chiếc cuối cùng trong một hàng dài đang băng qua ngã tư vào đúng lúc chiếc jeep phóng hết tốc lực vượt đèn. Nếu người mẹ chờ đến lượt đèn xanh kế tiếp mới chạy qua, chiếc jeep đã chẳng gây ra thiệt hại gì; nó chỉ đi qua ngã tư rồi tiếp tục chạy.

Cho dù người tài xế say rượu kia có gây ra một tai nạn nào đó, thì tai nạn ấy cũng đã không xảy ra tại chính ngã tư này.

- Nhưng phần lớn các tai nạn đều như vậy, - Sigurdur Oli nói với Erlendur. - Chỉ là những sự tình cờ đáng tiếc. Mà cái gã này nhất định không chịu hiểu.

- Ông ta bị lương tâm giày vò, - Erlendur phản bác. - Anh nên thông cảm cho ông ta.

- Thông cảm?! Ông ta gọi vào nhà tôi giữa đêm khuya! Còn phải thông cảm đến mức nào nữa?

Vợ người đàn ông ấy hôm đó đi mua sắm tại siêu thị Hagkaup trong trung tâm thương mại Smaralind. Cô đang đứng chờ tính tiền thì ông gọi vào điện thoại di động, hỏi cô có thể mua thêm một hộp dâu tây không. Cô đã mua, nhưng việc ấy khiến cô chậm mất vài phút.

Người đàn ông tin chắc rằng nếu ông không gọi điện cho cô, cô đã không có mặt tại ngã tư ấy vào đúng thời điểm đó, và chiếc jeep đã không tông vào xe cô. Đó là lý do ông khẳng định chuyện xảy ra là lỗi của mình. Tai nạn xảy ra chỉ vì ông đã gọi điện cho cô.

Cảnh tượng thật khủng khiếp. Chiếc xe của người phụ nữ vỡ tan tành. Chiếc jeep lật nhào sau cú va chạm. Người lái bị một cú đánh mạnh vào đầu, gãy nhiều xương và bất tỉnh khi xe cứu thương đưa ông ta đi. Một vũng máu loang trên mặt đường.

Có một vị linh mục đi cùng, Sigurdur Oli đến nhà người đàn ông đứng tên chiếc xe. Ông ta đang lo lắng cho vợ và con gái, nên hết sức sửng sốt khi thấy vị linh mục và viên cảnh sát đứng trước cửa. Khi biết chuyện gì đã xảy ra, ông sụp đổ hoàn toàn, và họ phải gọi bác sĩ.

Từ đó, thỉnh thoảng ông lại gọi cho Sigurdur Oli, người chẳng muốn chút nào nhưng đã trở thành một kiểu người để ông ta trút bầu tâm sự.

- Tôi không muốn rơi vào cái kiểu lệ thuộc lẫn nhau ấy, - Sigurdur Oli thở dài. - Nhưng ông ta không chịu để tôi yên. Gọi vào giữa đêm rồi bảo sẽ tự tử! Sao ông ta không bám lấy ông linh mục kia? Ông ấy cũng ở đó với tôi mà.

- Lệ thuộc lẫn nhau là sao? - Erlendur hỏi.

- Là khi mình cứ gật đầu với tất cả những gì một người nào đó nói hoặc làm, - Sigurdur Oli giải thích. - Lệ thuộc lẫn nhau!! Anh không hiểu tiếng Iceland hay sao?

- Bảo ông ta đi gặp bác sĩ tâm thần đi.

- Ông ta vẫn thường xuyên đi khám bác sĩ.

- Dĩ nhiên chẳng ai có thể đặt mình vào hoàn cảnh của ông ta được, - Erlendur nhận xét. - Ông ta chắc phải đau khổ khủng khiếp.

- Ừ, - Sigurdur Oli xác nhận.

- Ông ta có ý định tự tử thật không?

- Có vẻ là vậy. Ông ta có thể làm một chuyện cực kỳ dại dột. Tôi chịu hết nổi vụ này rồi. Tôi ngán tận cổ!

- Còn Bergthora thì nói sao?

- Cô ấy nghĩ tôi có thể giúp ông ta được phần nào.

- Tất cả chỉ vì mấy trái dâu tây thôi sao?

- Ừ, tôi biết. Tôi cứ nói mãi với cô ấy như thế. Chẳng có đầu có đuôi gì cả.


CHƯƠNG 9

Erlendur đang nghe kể về một vụ mất tích xảy ra vào những năm 1960. Ông đi cùng Sigurdur Oli. Lần này, người mất tích là một người đàn ông gần bốn mươi tuổi.

Kết quả phân tích sơ bộ bộ xương cho thấy người được tìm thấy trong hồ Kleifarvatn quả đúng ở độ tuổi từ ba mươi lăm đến bốn mươi.

Căn cứ vào năm tháng ghi trên thiết bị của Nga, ông ta đã bị dìm xuống hồ sau năm 1961. Chiếc hộp đen dùng làm vật nặng buộc vào bộ xương đã được phân tích toàn diện. Đó là một thiết bị nghe lén, thời ấy được gọi là máy thu sóng ngắn, có khả năng bắt được những tần số phát sóng mà Liên minh Bắc Đại Tây Dương sử dụng trong những năm 1960. Năm sản xuất, 1961, đã bị xóa một cách thô sơ, còn những dòng chữ vẫn có thể nhận ra rõ ràng là chữ Nga.

Erlendur xem lại những bài báo viết về vụ phát hiện các thiết bị của Nga trong hồ Kleifarvatn năm 1973. Nội dung báo chí nhìn chung phù hợp với những gì Marion Briem đã kể cho anh. Các thiết bị được tìm thấy ở độ sâu mười mét, không xa mũi Geithöfdi, nhưng khá xa nơi phát hiện bộ xương. Ông kể cho Sigurdur Oli và Elinborg nghe về việc phát hiện những thiết bị ấy, rồi cả ba bàn luận xem chúng có thể liên quan gì đến bộ xương hay không. Với Elinborg, chuyện ấy có vẻ quá rõ ràng. Nếu hồi đó cảnh sát mở rộng phạm vi tìm kiếm, có lẽ họ đã tìm thấy xác người đàn ông.

Trong các báo cáo cảnh sát thời ấy, những người thợ lặn khai rằng trong tuần trước khi phát hiện các thiết bị, họ đã trông thấy một chiếc limousine đen trên con đường dẫn đến Kleifarvatn. Họ lập tức nghĩ đó là xe của một sứ quán. Sứ quán Liên Xô không trả lời những yêu cầu cung cấp thông tin về chiếc xe, cũng như đại diện các phái đoàn Đông Âu khác ở Reykjavik.

Erlendur tìm thấy một bản báo cáo ngắn gọn đề cập đến nguồn gốc Liên Xô của những thiết bị. Trong số đó có những thiết bị gián điệp có tầm hoạt động một trăm sáu mươi cây số, có lẽ được dùng để nghe lén các cuộc điện thoại ở Reykjavik hoặc quanh Keflavik. Người ta cho rằng chúng được sản xuất vào đầu những năm 1960, vì đó là những máy phát dùng bóng điện tử cũ, chẳng bao lâu nữa sẽ được thay thế bằng transistor. Những thiết bị ấy được ngụy trang như những cục pin và đặt trong những chiếc va-li bình thường.

Người phụ nữ ngồi đối diện họ đã gần bảy mươi tuổi, nhưng trông vẫn khá khỏe mạnh so với tuổi. Bà và người đàn ông từng sống chung với bà chưa có con khi ông đột ngột biến mất. Họ chưa kết hôn, nhưng hồi đó đã tính chuyện ra tòa để đăng ký sống chung như vợ chồng. Bằng một giọng rụt rè pha chút tiếc nuối, bà thú nhận rằng từ đó đến nay bà chưa từng sống với ai nữa.

- Anh ấy là một người vô cùng tốt bụng, - bà nói. - Tôi vẫn luôn nghĩ anh ấy sẽ trở về. Tôi thà nghĩ như vậy còn hơn tin rằng anh ấy đã chết. Tôi không sao chấp nhận nổi ý nghĩ đó. Cho đến giờ tôi vẫn chưa thể chấp nhận.

Họ đã tìm được một căn hộ nhỏ và dự định có con. Bà làm việc trong một cửa hàng bán các sản phẩm từ sữa. Chuyện đó xảy ra vào năm 1968.

- Các anh chắc còn nhớ, - bà nói với Erlendur, - mà có khi anh cũng nhớ, - bà nói thêm, nhìn sang Sigurdur Oli. - Hồi đó có những cửa hàng chỉ bán sữa, phô mai tươi và những thứ tương tự. Toàn là sản phẩm từ sữa.

Erlendur điềm tĩnh gật đầu. Còn Sigurdur Oli đã bắt đầu có vài dấu hiệu sốt ruột.

Như thường lệ, người bạn đời của bà phải đến đón bà sau giờ làm, và bà đứng một mình trước cửa hàng chờ ông.

- Đã hơn ba mươi năm rồi, - bà nói, nhìn Erlendur, - vậy mà tôi vẫn có cảm giác mình đang đứng đợi anh ấy trước cửa hàng ấy. Như thể đã chờ anh ấy suốt bao nhiêu năm qua. Anh ấy lúc nào cũng đúng giờ, và tôi nhớ mình đã nghĩ anh ấy trễ kinh khủng sau mười phút, rồi mười lăm phút, rồi nửa giờ. Tôi nhớ thời gian khi ấy dường như dài vô tận. Cứ như thể anh ấy đã quên mất tôi.

Bà thở dài.

- Về sau, tôi lại có cảm giác như anh ấy chưa từng tồn tại.

Họ đã xem lại các báo cáo. Người phụ nữ báo tin mất tích vào sáng hôm sau. Cảnh sát đến nhà bà. Người ta đăng thông báo tìm kiếm trên báo, phát trên đài phát thanh và truyền hình. Cảnh sát bảo bà rằng có lẽ họ sẽ sớm tìm thấy ông, đồng thời hỏi ông có thường uống rượu không, trước đây có từng biến mất như vậy chưa, và theo bà biết thì ông có người đàn bà nào khác trong đời không.

Bà đều trả lời không, nhưng những câu hỏi ấy khiến bà bắt đầu nhìn người đàn ông của mình dưới một góc độ khác. Có người đàn bà nào khác không? Có phải ông đã bỏ đi theo một người nào khác?

Vì làm nghề đại diện bán hàng, ông đi lại rất nhiều nơi trong nước. Ông bán máy móc san lấp đất và máy móc nông nghiệp: máy kéo, máy cắt cỏ, máy xúc và máy ủi. Công việc buộc ông phải đi đây đó. Đôi khi, trong những chuyến đi dài, ông vắng nhà hàng tuần lễ. Đúng lúc mất tích, ông vừa trở về sau một chuyến đi như vậy.

- Tôi không hiểu anh ấy lên tận hồ Kleifarvatn làm gì, - bà nói, nhìn lần lượt hai người. - Chúng tôi chưa bao giờ đặt chân đến đó.

Họ không nói gì về chiếc máy của Nga, cũng không nhắc đến chiếc sọ bị đập vỡ. Họ chỉ nói về một bộ xương được tìm thấy ở nơi trước kia từng nằm dưới mặt hồ, và giải thích rằng họ đang điều tra những vụ mất tích xảy ra trong một giai đoạn nhất định.

- Hai ngày sau, chiếc xe của chị được tìm thấy trước bến xe khách, - Sigurdur Oli nói.

- Mô tả về ông ấy chẳng giúp ai nhận ra ông ấy cả. Tôi không có tấm ảnh nào của ông ấy, mà ông ấy cũng chẳng có ảnh của tôi. Chúng tôi mới sống với nhau chưa lâu, lại không có máy ảnh. Với lại, chúng tôi chẳng bao giờ đi du lịch. Mà người ta chụp ảnh nhiều nhất khi đi du lịch, phải không?

- Cả vào dịp Giáng sinh nữa, - Sigurdur Oli xác nhận.

- Vâng, vào dịp Giáng sinh, - bà đồng ý.

- Còn cha mẹ ông ấy?

- Họ đều mất từ lâu rồi. Ông ấy từng sống nhiều năm ở nước ngoài, làm việc trên tàu, rồi cũng từng sống một thời gian ở Anh và Pháp. Sau những năm dài ở nước ngoài, ông ấy có một chút giọng khác. Từ lúc ông ấy mất tích cho đến khi người ta tìm thấy chiếc xe, có khoảng ba mươi chuyến xe khách rời bến đi khắp mọi miền đất nước, nhưng chẳng tài xế nào có thể nói ông ấy có lên một trong những chuyến xe ấy hay không. Họ không nghĩ là đã thấy ông ấy. Cảnh sát tin chắc rằng nếu ông ấy đi xe khách thì các tài xế hẳn đã nhận ra, nhưng tôi biết họ nói vậy chỉ để trấn an tôi. Tôi nghĩ các cảnh sát cho rằng ông ấy đang say rượu ở đâu đó trong thành phố rồi sẽ về nhà. Họ bảo tôi rằng đôi khi họ cũng nhận được điện thoại của những người vợ lo sốt vó trong lúc chồng họ đang say khướt ngoài phố.

Người phụ nữ ngừng lại một lúc.

- Tôi không nghĩ họ đã điều tra quá kỹ, - bà nói thêm. - Tôi có cảm giác vụ này chẳng làm họ quan tâm mấy.

- Theo chị, tại sao ông ấy lại để xe ở bến xe khách? - Erlendur hỏi.

Ông thấy Sigurdur Oli ghi lại nhận xét của người phụ nữ về cách cảnh sát đã tiến hành công việc hồi đó.

- Tôi không biết.

- Chị nghĩ có thể người khác đã đưa chiếc xe đến đó không? Để đánh lạc hướng chị, hoặc đánh lạc hướng cảnh sát? Khiến mọi người nghĩ ông ấy đã rời khỏi thành phố?

- Tôi không biết, - người phụ nữ đáp. - Dĩ nhiên tôi đã nghĩ rất nhiều đến khả năng ông ấy bị giết, nhưng tôi không hiểu ai có thể làm chuyện đó, càng không hiểu vì lý do gì. Tôi hoàn toàn không sao hiểu nổi.

- Nhiều khi chính sự tình cờ quyết định mọi chuyện, - Erlendur đáp. - Không phải lúc nào cũng có một lời giải thích. Ở Iceland, rất hiếm khi một vụ giết người được thực hiện vì một động cơ rõ ràng. Phần lớn chỉ là tai nạn, những cơn điên loạn nhất thời, không chuẩn bị, không mưu tính trước, và thường là những hành động thiếu suy nghĩ đến mức khủng khiếp.

Các báo cáo cảnh sát cho biết người đàn ông đã đi gặp một khách hàng vào đầu ngày hôm đó và dự định sau đó sẽ về nhà. Một người chăn nuôi gia súc sống gần thành phố đang muốn mua một chiếc máy kéo. Ông đã định đến gặp người này để cố gắng hoàn tất việc mua bán. Người nông dân khai rằng ông ta chưa bao giờ đến. Ông đã chờ cả ngày nhưng không hề thấy người bán hàng.

- Vậy là mọi chuyện đang có vẻ hoàn toàn bình thường, rồi ông ấy cứ thế biến mất, - Sigurdur Oli nhận xét. - Còn theo chị, chuyện gì đã xảy ra?

- Anh ấy đâu có “cứ thế biến mất”, - người phụ nữ phật ý. - Sao anh lại nói như vậy?

- Không, xin chị thứ lỗi, - Sigurdur Oli nói. - Dĩ nhiên không phải vậy. Ý tôi là anh ấy đã mất tích. Xin chị thứ lỗi.

- Tôi không biết, - người phụ nữ đáp. - Đôi khi anh ấy hơi buồn bã, ít nói và cô độc. Có lẽ nếu chúng tôi có con... Có lẽ mọi chuyện đã khác nếu chúng tôi có con.

Một khoảng im lặng.

Erlendur hình dung bà đi đi lại lại trước cửa hàng, lo lắng và thất vọng.

- Anh ấy có liên lạc với các sứ quán ở Reykjavik không? - Erlendur hỏi.

- Các sứ quán? - người phụ nữ ngạc nhiên.

- Vâng, các sứ quán, - Erlendur xác nhận. - Anh ấy có quan hệ với sứ quán nào không, nhất là sứ quán của các nước Đông Âu?

- Không, không có sứ quán nào cả, - người phụ nữ đáp. - Tôi không hiểu... Ý các anh là sao?

- Anh ấy không quen biết ai trong các sứ quán, cũng không làm việc cho họ hay đại loại như vậy chứ? - Sigurdur Oli hỏi.

- Không, hoàn toàn không, ít nhất là sau khi chúng tôi gặp nhau. Theo tôi biết thì không.

- Hồi đó xe của chị là loại gì? - Erlendur hỏi. Ông đã quên mất nhãn hiệu được ghi trong báo cáo.

Người phụ nữ suy nghĩ một lúc. Đầu óc bà bắt đầu rối lên trước sự kỳ lạ của tất cả những câu hỏi này.

- Một chiếc Ford, - bà đáp. - Tôi nghĩ là Falcon. Màu đen.

- Đọc lại các báo cáo cảnh sát thời ấy, tôi có cảm giác họ chẳng tìm được manh mối nào giải thích vụ mất tích của bạn đời chị.

- Không, họ chẳng tìm được gì. Có người lấy mất một cái nắp chụp bánh xe, chỉ có vậy.

- Ở đó, trước bến xe khách? - Sigurdur Oli hỏi.

- Họ nghĩ vậy.

- Vậy là thiếu một cái nắp chụp bánh xe?

- Vâng.

- Còn chiếc xe, sau đó thế nào?

- Tôi bán nó đi. Tôi thiếu tiền. Tôi chưa bao giờ có nhiều tiền.

Bà vẫn nhớ số đăng ký của chiếc xe và đọc ra với vẻ đãng trí. Sigurdur Oli ghi lại. Erlendur ra hiệu rằng họ nên đi. Hai người đứng dậy, cảm ơn bà đã tiếp họ. Bà vẫn ngồi trên ghế. Erlendur có cảm giác bà đang vô cùng bối rối và tuyệt vọng.

- Những máy móc ông ấy bán, chúng từ đâu đến vậy? - Erlendur hỏi, chỉ để nói một câu gì đó.

- Máy móc nông nghiệp à? Chúng được nhập từ Nga và Đông Đức. Ông ấy bảo chất lượng không bằng hàng Mỹ, nhưng rẻ hơn rất nhiều.

Erlendur không hiểu Sindri Snaer muốn gì ở ông. Con trai ông hoàn toàn không giống Eva, chị nó, người cho rằng Erlendur đã không cố gắng đủ để giành quyền thăm nom các con. Nếu không phải mẹ chúng suốt ngày nói xấu ông, có lẽ chúng còn chẳng biết ông tồn tại. Lớn lên, Eva đã tìm lại được cha và trút hết cơn giận dữ lên ông, không chút thương xót.

Sindri Snaer dường như không có mối bận tâm ấy. Cậu không cố moi móc ông về chuyện gia đình tan vỡ, không buộc tội ông đã thờ ơ với cậu và chị gái trong suốt thời thơ ấu, khi hai đứa lớn lên với niềm tin rằng cha mình là một kẻ xấu xa vì đã bỏ rơi chúng.

Khi Erlendur về đến nhà, Sindri Snaer đang luộc spaghetti. Cậu đã dọn dẹp nhà bếp - nghĩa là vứt đi vài cái vỏ hộp thức ăn chế biến sẵn, rửa mấy chiếc nĩa, lau máy pha cà phê cùng khoảng bàn chung quanh.

Erlendur vào phòng khách xem bản tin truyền hình. Vụ bộ xương ở Kleifarvatn lúc này đã tụt xuống vị trí thứ năm. Cảnh sát cẩn thận không tiết lộ sự tồn tại của thiết bị Nga.

Hai cha con ngồi im lặng ăn spaghetti. Erlendur dùng nĩa cắt mì thành từng đoạn rồi cho thêm bơ, trong khi Sindri chu môi hút mì cùng với tương cà. Erlendur hỏi thăm mẹ cậu, nhưng Sindri đáp rằng từ khi lên thành phố đến giờ cậu chưa nhận được tin tức gì về bà.

Họ ngồi im lặng ăn. Ti-vi vẫn bật trong phòng khách. Chương trình trò chuyện đã bắt đầu. Một ngôi sao nhạc pop đang kể về những chiến thắng lớn lao trong đời mình.

- Cuối năm ngoái, Eva có kể với con rằng ba từng có một người em trai, và chú ấy đã chết, - Sindri đột nhiên nói, vừa lấy khăn giấy lau miệng.

- Đúng vậy, - Erlendur đáp sau một thoáng suy nghĩ. Ông không ngờ Sindri lại hỏi chuyện ấy.

- Eva bảo con chuyện đó ảnh hưởng đến ba rất nhiều.

- Đúng vậy.

- Và phần nào giải thích cho cách ba sống.

- Cách ba sống? Ba chẳng biết gì về cách ba sống cả. Eva cũng vậy!

Họ lại im lặng ăn tiếp. Sindri chu môi hút mì, còn Erlendur vật lộn với những sợi spaghetti để giữ chúng trên nĩa. Ông tự nhủ lần tới đi ngang qua một cửa hàng nào đó, ông sẽ mua ít bột yến mạch và sur slátur¹.

- Không phải lỗi của con, - Sindri nói.

- Chuyện gì?

- Chuyện con hầu như chẳng biết ba là ai.

- Không, - Erlendur thừa nhận. - Không phải lỗi của con.

Họ tiếp tục ăn trong im lặng. Sindri đặt nĩa xuống, lại lau miệng bằng một mảnh khăn giấy. Cậu đứng dậy lấy một chiếc cốc, hứng nước từ vòi rồi quay lại ngồi vào bàn.

- Eva bảo con là người ta chưa bao giờ tìm thấy chú ấy.

- Đúng, chưa bao giờ tìm thấy, - Erlendur xác nhận.

- Vậy là chú ấy vẫn còn ở đâu đó trên núi?

Erlendur ngừng ăn, đặt nĩa xuống.

- Ba nghĩ vậy, - ông đáp, nhìn thẳng vào mắt con trai. - Con hỏi những chuyện này để làm gì?

- Ba còn đi tìm chú ấy không? - Sindri hỏi.

- Đi tìm?

- Vâng, ba vẫn còn tìm sao?

- Sindri, con muốn gì ở ba vậy? - Erlendur hỏi.

¹ Sur slátur là một món ăn truyền thống Iceland làm từ tiết và nội tạng cừu, được ngâm chua trong nước muối để bảo quản. (Chú thích của người dịch.)

- Con từng làm việc ở vùng vịnh hẹp miền Đông, tại Eskifjördur. Người ta không biết là chúng ta... - Sindri ngập ngừng tìm từ - ...là cha con mình có quen biết nhau. Nhưng khi Eva kể con nghe chuyện về em trai ba, con đã hỏi thăm những người ở đó, những người lớn tuổi và những người làm cùng con trong nghề cá.

- Con hỏi về ba à?

- Không, không trực tiếp. Không phải về ba. Con hỏi về chuyện ngày xưa, về những người từng sống ở đó, về những người nông dân quanh vùng. Cha của ba, tức ông nội con, ngày trước là nông dân, phải không?

Erlendur không đáp.

- Có người ở đó vẫn còn nhớ rất rõ, - Sindri nói tiếp.

- Nhớ chuyện gì?

- Chuyện hai đứa con trai đi cùng cha lên núi, rồi đứa nhỏ hơn mất tích. Sau đó cả gia đình chuyển lên thủ đô.

Erlendur nhìn chằm chằm vào con trai.

- Con đã nói chuyện với những ai?

- Những người sống ở đó, trong vùng vịnh hẹp miền Đông.

- Vậy là con đi dò la về ba à? - Erlendur gắt.

- Con không đi dò la, - Sindri đáp. - Eva Lind kể con nghe chuyện đó, rồi con hỏi thăm xem chuyện gì đã xảy ra thôi.

Erlendur đẩy đĩa ra xa.

- Rồi chuyện gì đã xảy ra?

- Thời tiết nổi cơn dữ dội. Cha của ba trở về nhà và người ta gọi đội cứu hộ. Ba được tìm thấy, vùi dưới tuyết. Còn chú thì không bao giờ được tìm thấy. Ông nội không tham gia cuộc tìm kiếm. Người ta bảo con rằng ông ấy day dứt vì chuyện đó, và sau đó lúc nào ông cũng có vẻ khác lạ.

- Khác lạ? - Erlendur nổi giận. - Chuyện vớ vẩn gì vậy?

- Mẹ ba mạnh mẽ hơn nhiều, - Sindri tiếp tục. - Bà đi cùng đội cứu hộ mỗi ngày và tiếp tục tìm chú rất lâu sau đó. Cho đến khi cả nhà chuyển đi, hai năm sau. Bà vẫn lên núi tìm con trai. Đó gần như đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với bà.

- Bà chỉ muốn chú ấy có một nơi chôn cất, - Erlendur đáp. - Đó mới là điều ám ảnh bà.

- Người ta cũng kể con nghe về ba.

- Con đừng nghe những chuyện vớ vẩn người ta kể.

- Họ bảo người anh, tức là đứa được cứu, vẫn thường xuyên về miền Đông, đi khắp các vùng núi và đồng hoang. Có khi cách nhau mấy năm mới về một lần, và đã lâu rồi ba chưa trở lại, nhưng họ vẫn luôn chờ một ngày thấy ba xuất hiện. Ba đi một mình, mang theo một cái lều. Ba thuê ngựa rồi đi vào núi. Một tuần, mười ngày, có khi mười lăm ngày sau mới trở xuống, rồi lái xe đi. Ba chẳng bao giờ nói chuyện với ai, ngoại trừ lúc thuê ngựa, mà ngay cả lúc ấy ba cũng chẳng nói mấy.

- Ở miền Đông người ta vẫn còn nói về chuyện đó sao?

- Con không nghĩ vậy, - Sindri đáp. - Không nhiều lắm đâu. Con tò mò về chuyện ấy nên đã nói chuyện với những người còn nhớ rõ. Những người còn nhớ về ba. Con đã nói chuyện với người nông dân cho ba thuê ngựa.

- Sao con lại làm vậy? Con chưa bao giờ...

- Eva Lind bảo con rằng nó hiểu ba hơn từ khi ba kể cho nó nghe chuyện đó. Nó lúc nào cũng muốn nói về ba. Còn con thì chưa bao giờ quan tâm đến ba. Trong mắt nó, ba là một điều gì đó mà con không sao hiểu được. Còn đối với con, ba hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì, và con thấy như vậy cũng tốt. Con thấy không cần đến ba cũng là một điều tốt. Con chưa bao giờ cần đến ba. Còn Eva thì luôn cần bám víu vào ba, từ trước đến nay vẫn vậy.

- Ba đã cố làm những gì có thể cho Eva, - Erlendur đáp.

- Con biết, nó có kể con nghe. Đôi khi nó có cảm giác ba xen vào những chuyện không phải của mình, nhưng con nghĩ nó cũng hiểu ba đang cố gắng làm gì cho nó.

- Hài cốt con người có thể được tìm thấy sau hàng chục năm, - Erlendur nói. - Thậm chí sau cả trăm năm. Hoàn toàn tình cờ. Có rất nhiều câu chuyện như vậy.

- Có lẽ, - Sindri đáp. - Eva bảo con rằng ba tự cảm thấy mình có trách nhiệm về chuyện xảy ra với chú. Rằng ba đã buông tay chú. Có phải vì vậy mà ba cứ trở về miền Đông để tìm chú không?

- Ba nghĩ...

Erlendur im lặng.

- Vì ba thấy có lỗi à?

- Ba không biết có thể gọi đó là cảm giác có lỗi hay không, - ông đáp, thoáng mỉm cười.

- Nhưng ba chưa bao giờ tìm thấy chú, - Sindri nói tiếp.

- Ừ chưa, - Erlendur đáp.

- Vì vậy mà ba cứ quay lại đó mãi.

- Ba thấy dễ chịu khi đến miền Đông. Được thay đổi khung cảnh. Được ở một mình với chính mình một chút.

- Con đã thấy căn nhà mà gia đình mình xây. Nó bỏ hoang lâu rồi.

- Ừ, - Erlendur đáp. - Lâu rồi. Và cũng đã đổ nát một nửa. Có lúc ba từng nghĩ sẽ biến nó thành một căn nhà nghỉ ở quê, nhưng...

- Chỗ đó nồng nặc mùi chết chóc.

Erlendur nhìn Sindri.

- Ngủ ở đó vẫn còn dễ chịu, - ông nói. - Cùng với những hồn ma.

Tối hôm đó, khi đi ngủ, Erlendur lại nghĩ đến những lời con trai. Sindri nói đúng.

Vào mùa hè, thỉnh thoảng ông trở về vùng vịnh hẹp miền Đông để tìm em trai. Ông cũng chẳng biết vì sao, nếu không tính cái lý do hiển nhiên là ông muốn tìm được hài cốt của em để khép lại câu chuyện, dù trong thâm tâm biết rằng giờ đây chẳng còn mấy hy vọng cơ thể em vẫn còn sót lại chút gì.

Ông luôn ngủ đêm đầu tiên và đêm cuối cùng trong căn nhà cũ của trang trại, nay đã bỏ hoang. Ông nằm ngủ dưới sàn, qua những ô cửa kính vỡ ngước nhìn bầu trời, nghĩ về thời xưa, về quãng thời gian ông từng ngồi trong căn phòng ấy cùng gia đình, cùng những người thân thuộc, hoặc những người trong vùng.

Ông nhìn cánh cửa xinh xắn sơn màu dẫn vào căn phòng chính, và thấy mẹ bước vào, tay cầm bình cà phê, rót cà phê vào những tách của khách dưới ánh đèn dịu dàng. Cha ông đứng nơi ngưỡng cửa, mỉm cười với ai đó. Em trai ông rụt rè tiến lại gần, e ngại trước những vị khách, hỏi ông xem có được ăn thêm một cái bánh rán nữa không.

Còn ông, đứng bên cửa sổ, nhìn những con ngựa bên ngoài.

Mọi người vui vẻ, ồn ào trở về sau một chuyến cưỡi ngựa.

Đó là những hồn ma của riêng ông.


CHƯƠNG 10

Marion Briem trông có vẻ khá hơn đôi chút khi Erlendur đến thăm bà vào sáng sớm hôm sau. Ông đã kiếm được một bộ phim cao bồi có John Wayne đóng. Đó là The Searchers - La Prisonnière du désert¹, và có vẻ Marion rất hài lòng. Bà bảo Erlendur cho cuốn băng vào đầu máy video.

- Từ bao giờ ông lại xem phim cao bồi vậy? - Erlendur hỏi.

- Tôi mê thể loại này từ lâu rồi, - Marion đáp.

Mặt nạ oxy đặt trên chiếc bàn cạnh ghế bành trong phòng khách.

- Những bộ phim hay nhất kể những câu chuyện giản dị về những con người giản dị. Tôi cứ tưởng một gã nhà quê như ông cũng thích loại chuyện ấy chứ.

- Tôi chưa bao giờ quen được với điện ảnh.

- Thế vụ hồ Kleifarvatn tiến triển tới đâu rồi?

- Việc tìm thấy một bộ xương, có lẽ từ những năm sáu mươi, bị buộc vào một thiết bị nghe lén của Liên Xô cho chúng ta biết được gì? - Erlendur hỏi lại.

- Chỉ có một giả thuyết có thể nghĩ tới thôi sao? - Marion nhận xét.

- Gián điệp, phải không?

- Ừ.

- Bà thực sự nghĩ đó là một điệp viên Iceland chính hiệu nằm dưới hồ à?

- Ai bảo anh ta là người Iceland?

- Thì người ta cũng dễ nghĩ vậy thôi, phải không? - Erlendur hỏi, giọng do dự.

- Chẳng có gì cho thấy anh ta là người Iceland cả, - Marion nhận xét, rồi đột nhiên lên một cơn ho dữ dội. Bà khó thở. - Đưa tôi bình oxy. Tôi sẽ thấy dễ chịu hơn.

Erlendur với tay lấy mặt nạ, đặt lên mặt bà rồi mở van bình oxy. Ông tự hỏi có nên gọi y tá, hay thậm chí bác sĩ không. Marion dường như đọc được ý nghĩ của ông.

- Đừng lo, thế này là được rồi. Hôm nay sẽ có y tá tới thăm tôi.

- Có lẽ tôi không nên ở đây làm bà mệt thêm.

- Đừng đi vội. Ông là người duy nhất đến thăm tôi mà tôi muốn nói chuyện cùng. Và cũng là người duy nhất có thể cho tôi một điếu thuốc.

- Đừng trông mong chuyện đó ở tôi.

Một khoảng im lặng. Marion lại đặt mặt nạ xuống.

- Người Iceland từng làm gián điệp trong thời Chiến tranh Lạnh sao? - Erlendur hỏi.

- Tôi không biết, - Marion đáp. - Nhưng tôi biết có những người từng cố xúi họ làm chuyện đó. Tôi nhớ một người đàn ông đã đến gặp chúng tôi, than phiền rằng người Nga cứ không chịu để ông ta yên.

Marion nhắm mắt. Đó là một câu chuyện gián điệp kỳ quặc đến mức khó tin, nhưng dĩ nhiên lại rất Iceland.

Người Nga đã liên lạc với người đàn ông ấy, hỏi ông ta có sẵn lòng giúp họ không. Trong số những việc khác, họ muốn có thông tin về sân bay Keflavik và các cơ sở ở đó. Người Nga tỏ ra hết sức nghiêm túc; họ muốn gặp ông ta ở những nơi vắng vẻ bên ngoài thành phố, và ông ta cảm thấy họ gây áp lực quá mạnh. Ông ta không sao thoát khỏi họ được. Ông ta đã nói rõ rằng mình không đồng ý, nhưng người Nga chẳng chịu nghe, và cuối cùng ông ta đành nhượng bộ.

Lúc ấy ông ta mới liên lạc với cảnh sát. Cảnh sát bèn dựng một cái bẫy đơn giản đến mức gần như ngây ngô. Khi người đàn ông tới hồ Hafravatn để gặp người Nga, hai viên cảnh sát đã chui vào xe ông ta, trốn dưới những tấm chăn. Những cảnh sát khác bố trí quanh khu vực. Người Nga hoàn toàn không nghi ngờ gì cho đến khi hai viên cảnh sát từ trong xe nhảy ra bắt giữ họ.

- Họ bị trục xuất, - Marion kết luận.

Gương mặt bà nhăn lại khi nhớ đến vụ gián điệp ấy.

- Tôi vẫn còn nhớ tên họ: Kisilev và Dimitriev.

- Nhưng bà có tình cờ nhớ một vụ mất tích xảy ra ở Reykjavik vào những năm sáu mươi không? - Erlendur hỏi tiếp. - Một người đàn ông bán máy nông nghiệp và máy xúc. Anh ta không đến một cuộc hẹn với một người nông dân sống không xa thành phố, rồi từ đó không còn ai biết tin tức gì về anh ta nữa.

- Có, tôi nhớ rất rõ. Chính Niels phụ trách vụ đó. Cái lão Niels lười biếng ấy.

- Đúng, - Erlendur đồng ý. Ông biết Niels. - Người đàn ông ấy có một chiếc Ford Falcon, được tìm thấy trước bến xe khách. Có ai đó đã lấy mất một cái nắp chụp bánh xe.

- Chẳng phải anh ta chỉ muốn bỏ bà vợ của mình hay sao? Tôi nhớ mang máng đó là kết luận của cuộc điều tra. Rằng anh ta đã tự tử.

- Cũng có thể lắm, - Erlendur đáp.

Marion nhắm mắt. Erlendur ngồi im lặng khá lâu trên ghế sofa, xem bộ phim cao bồi trong khi Marion thiu thiu ngủ. Trên vỏ cuốn băng ghi rằng Wayne đóng vai một cựu binh miền Nam đi tìm những người da đỏ đã giết anh trai và chị dâu của mình, rồi bắt cóc con gái họ. Người lính ấy mất nhiều năm tìm kiếm cô bé, và khi cuối cùng tìm được cô, cô đã quên sạch quá khứ, trở thành một người da đỏ.

Hai mươi phút sau, Erlendur đứng dậy chào Marion. Bà vẫn còn ngủ, mặt nạ oxy vẫn đặt trên miệng.

Khi tới đồn cảnh sát, Erlendur vào ngồi trong phòng làm việc của Elinborg. Cô đang bận soạn một bài diễn văn cho buổi tiệc cocktail nhân dịp cuốn sách của mình được xuất bản. Sigurdur Oli cũng có mặt. Anh báo cáo rằng đã lần theo danh sách những người từng sở hữu chiếc Falcon cho đến khi tìm được người chủ gần đây nhất.

- Ông ta bán chiếc xe cho một bãi phế liệu ở Kopavogur ngay trước năm 1980, - Sigurdur Oli nói. - Bãi phế liệu ấy vẫn còn hoạt động, nhưng gọi điện chẳng ai bắt máy. Có lẽ họ đang nghỉ hè.

- Bên Khoa học Hình sự có cho chúng ta thêm thông tin gì về thiết bị nghe lén không? - Erlendur hỏi.

Ông thấy Elinborg mấp máy môi, mắt dán vào màn hình như thể đang cố kiểm tra xem bài diễn văn có nghe xuôi tai không.

- Elinborg! - ông gắt.

Cô giơ một ngón tay lên, như muốn bảo ông chờ một chút.

- ... và tôi hy vọng, - cô đọc to từ màn hình, - cuốn sách này sẽ mang đến cho quý vị những giây phút quý báu trong gian bếp của mình, đồng thời giúp quý vị mở rộng chân trời. Tôi đã cố gắng viết thật đơn giản, cố nhấn mạnh đến khía cạnh gia đình, bởi việc nấu nướng và chuẩn bị bữa ăn là trung tâm...

- Tuyệt vời, - Erlendur ngắt lời.

- Khoan đã, - Elinborg tiếp tục. - ... là trung tâm của mọi mái ấm hòa thuận, nơi gia đình sum họp mỗi ngày để cùng nhau tận hưởng những giây phút vui vẻ, yên bình.

- Elinborg, - Sigurdur Oli cắt ngang.

- Nghe có quá ủy mị không? - cô hỏi, nhăn mặt.

- Chảy nước luôn ấy chứ, - Sigurdur Oli nhận xét.

Elinborg nhìn Erlendur.

- Bên Khoa học Hình sự nói gì về thiết bị đó? - ông hỏi.

- Họ vẫn đang nghiên cứu, - Elinborg đáp. - Họ đang cố tìm một chuyên gia bên ngành Bưu điện Viễn thông.

- Tôi cứ nghĩ đến tất cả những thiết bị được tìm thấy ở Kleifarvatn trong năm ấy, - Sigurdur Oli xen vào, - và cả thiết bị được buộc vào bộ xương. Có lẽ chúng ta nên đi hỏi những người từng làm việc tại các sứ quán nước ngoài?

- Ừ, cậu lo tìm xem nên hỏi ai, - Erlendur đáp. - Những người còn nhớ thời Chiến tranh Lạnh khi nó đang ở lúc căng thẳng nhất.

- Chúng ta thực sự đang nói đến chuyện gián điệp ở Iceland sao? - Elinborg hỏi.

- Tôi không biết, - Erlendur đáp.

- Nghe cũng buồn cười đấy chứ? - Elinborg nhận xét.

- Cũng chẳng buồn cười hơn cái “mái ấm hòa thuận nơi gia đình sum họp mỗi ngày để cùng nhau tận hưởng những giây phút vui vẻ, yên bình” ấy đâu, - Sigurdur Oli nói, bắt chước giọng cô.

- Thôi, im đi, - Elinborg đáp, xóa những gì vừa viết trên màn hình.

Người duy nhất làm việc tại bãi phế liệu Kopavogur là chính ông chủ, và bãi phế liệu chỉ mở cửa vào buổi chiều. Những xác xe hơi nằm sau một hàng rào cao, chất chồng lên nhau tới sáu chiếc. Một số chiếc ở trong tình trạng thảm hại sau những vụ tai nạn nghiêm trọng, trong khi những chiếc khác chỉ đơn giản là quá cũ, đã đến lúc hết đường sử dụng.

Ông chủ bãi phế liệu dường như cũng chẳng khá hơn những chiếc xe ấy. Đó là một người đàn ông trông mệt mỏi, gần sáu mươi tuổi, mặc bộ đồ liền thân rách rưới, bẩn thỉu, mà ngày trước hẳn từng có màu xanh nhạt. Ông đang tháo cản sau của một chiếc xe Nhật gần như bị ép dẹp hoàn toàn như một chiếc đàn xếp sau cú va chạm từ phía sau.

Erlendur đứng nhìn xác xe, chờ người đàn ông ngẩng đầu lên.

- Xe tải tông vào nó đấy, - ông ta nhận xét. - May mà phía sau lúc ấy không có ai.

- Xe còn mới mà, - Erlendur tiếc rẻ.

- Vậy ông cần gì?

- Tôi đang tìm một chiếc Ford Falcon màu đen, - Erlendur nói. - Có người đã bán hoặc cho ông chiếc xe ấy trước năm 1980.

- Ford Falcon à?

- Tôi biết là vô vọng rồi, - Erlendur nhận xét.

- Ý tôi là lúc nhận nó về đây thì nó đã cũ lắm rồi, - người đàn ông nói, cầm một miếng giẻ lau tay. - Họ ngừng sản xuất nó khoảng năm 1970, có khi còn sớm hơn.

- Nghĩa là nó chẳng có ích gì cho ông cả, phải không?

- Phần lớn những chiếc Falcon đã biến mất từ lâu trước năm 1980 rồi. Sao ông lại tìm nó? Ông thiếu phụ tùng à? Hay đang phục chế một chiếc?

Erlendur giải thích tình hình: ông là cảnh sát; chiếc xe này có liên quan đến một vụ mất tích xảy ra nhiều năm trước. Người đàn ông lập tức tỏ ra quan tâm.

Ông ta kể rằng mình đã mua lại bãi phế liệu từ một người tên Haukur vào giữa những năm tám mươi, nhưng không nhớ đã từng có một chiếc Ford Falcon nào trong bãi. Ông giải thích rằng người chủ cũ, đã mất từ nhiều năm trước, có giữ sổ ghi chép những xác xe ông ta mua vào, rồi chỉ cho Erlendur một căn phòng nhỏ phía sau quầy tiếp tân, nơi những hồ sơ và thùng giấy tờ chất đống cao tới tận trần.

- Đó là sổ sách của chúng tôi, - người đàn ông nói, cười vẻ ái ngại. - Ở đây, chúng tôi không có thói quen vứt bỏ thứ gì. Ông cứ tự nhiên xem qua nếu muốn. Tôi chưa bao giờ đủ kiên nhẫn để ghi chép các xác xe, vì chẳng thấy có ích gì, nhưng lão Haukur ngày trước thì làm việc đó rất cẩn thận.

Erlendur cảm ơn ông ta rồi bắt đầu xem xét những hồ sơ, mỗi tập đều ghi năm trên gáy. Ông tìm đến những chồng hồ sơ của thập niên bảy mươi và bắt đầu từ đó.

Ông không biết vì sao mình lại tìm chiếc xe này. Ông chẳng thấy nó có thể giúp ích gì cho mình, nếu quả thật nó vẫn còn tồn tại. Sigurdur Oli đã hỏi tại sao ông lại quan tâm đến vụ mất tích này hơn những vụ khác mà ông đã xem xét trong mấy ngày qua.

Erlendur không có câu trả lời thỏa đáng. Sigurdur Oli hẳn sẽ chẳng bao giờ hiểu nếu ông nói rằng mình không thể xua khỏi đầu hình ảnh người phụ nữ cô độc ấy, người từng nghĩ cuối cùng mình đã tìm được hạnh phúc, đứng đi tới đi lui trước một tiệm sữa, liên tục nhìn đồng hồ trong khi chờ đợi người đàn ông mình yêu.

Ba tiếng sau, khi Erlendur sắp bỏ cuộc và ông chủ bãi phế liệu đã mấy lần đến hỏi xem ông có tìm thấy gì chưa, ông tìm được thứ mình đang tìm: một biên nhận liên quan đến chiếc xe.

Bãi phế liệu đã bán chiếc Falcon màu đen vào ngày 21 tháng Mười năm 1979. Động cơ không còn hoạt động, nội thất và lớp sơn còn khá tốt. Không có biển số.

Đính vào tờ mô tả là một hóa đơn viết bằng bút chì. Trên đó ghi:

Falcon, đời 1967.
Giá: 35.000 Kr.
Người mua: Hermann Albertsson.


CHƯƠNG 11

Bí thư thứ nhất của sứ quán Nga tại Reykjavik trạc tuổi Erlendur, nhưng người mảnh khảnh hơn và rõ ràng khỏe mạnh hơn ông nhiều. Ông ta tiếp họ, cố làm ra vẻ thoải mái. Mặc quần kaki và áo len, ông ta vừa cười vừa bảo mình đang định đi đánh golf. Ông ta mời Erlendur và Elinborg vào phòng làm việc, rồi ngồi xuống sau một chiếc bàn lớn, nở một nụ cười rộng.

Ông ta biết lý do họ đến. Cuộc hẹn đã được sắp xếp từ khá lâu, nên cái cớ đi đánh golf này khiến Erlendur ngạc nhiên. Cứ như thể ông ta muốn cuộc gặp được giải quyết cho xong để còn vội vã đi đâu đó.

Họ nói chuyện bằng tiếng Anh. Mặc dù viên bí thư đã biết họ đến vì chuyện gì, Elinborg vẫn trình bày ngắn gọn lý do cuộc gặp này là cần thiết. Người ta đã tìm thấy một thiết bị nghe lén của Nga buộc vào bộ xương của một người đàn ông, nhiều khả năng đã bị sát hại rồi dìm xuống hồ Kleifarvatn vào một thời điểm sau năm 1961. Việc phát hiện thiết bị nghe lén ấy vẫn chưa được tiết lộ cho báo chí.

- Từ năm 1960 đến nay, đã có khá nhiều đại sứ, trước là của Liên Xô, sau là của Nga, làm việc tại đây, - viên bí thư giải thích, cười với vẻ tự tin như thể chẳng hề thấy mình có liên quan gì đến những điều hai viên cảnh sát đang kể. - Những người làm việc ở đây hồi những năm sáu mươi và đầu những năm bảy mươi đều đã qua đời từ lâu. Tôi nghi là họ chẳng biết có những thiết bị của Nga nằm dưới cái hồ ấy. Mà tôi cũng chẳng biết gì hơn họ.

Ông ta mỉm cười, Erlendur cũng cười đáp lại.

- Nhưng các ông từng làm gián điệp ở Iceland trong thời Chiến tranh Lạnh chứ? Hoặc ít nhất cũng từng thử.

- Chuyện đó xảy ra trước khi tôi đến đây, - viên bí thư đáp. - Tôi chẳng thể nói gì với ông về chuyện ấy.

- Nghĩa là bây giờ không còn hoạt động gián điệp nữa?

- Các ông nghĩ chúng tôi còn gì để do thám? Chúng tôi lên mạng như mọi người thôi. Với lại, căn cứ quân sự của các ông giờ chẳng còn mấy ý nghĩa chiến lược. Nếu như trước đây nó từng có ý nghĩa. Những điểm nóng trên thế giới đã chuyển sang nơi khác. Hoa Kỳ không còn cần một đầu cầu như Iceland nữa. Họ làm gì ở đây với cái căn cứ quân sự tốn kém đến phát khiếp ấy thì thật khó hiểu. Nếu là Thổ Nhĩ Kỳ thì còn có thể hiểu được.

- Đó không phải căn cứ quân sự của chúng tôi, - Elinborg nói rõ.

- Chúng tôi biết nhân viên sứ quán các ông từng bị trục xuất khỏi Iceland vì bị tình nghi làm gián điệp, - Erlendur xen vào. - Vào thời kỳ căng thẳng nhất của Chiến tranh Lạnh.

- Vậy thì các ông biết nhiều hơn tôi rồi, - viên bí thư đáp. - Mà dĩ nhiên đó là căn cứ quân sự của các ông, - ông ta nói thêm, nhìn Elinborg. - Đừng tự dối mình.

Rồi ông ta lại quay sang Erlendur:

- Nếu sứ quán này từng là một ổ gián điệp, thì số người của chúng tôi cũng chỉ bằng phân nửa số nhân viên CIA tại sứ quán Hoa Kỳ. Các ông đã hỏi họ chưa? Nghe các ông kể về vụ phát hiện bộ xương này, tôi có cảm giác đó là một kiểu án mạng xã hội đen, nói sao nhỉ... Các ông chưa từng nghĩ đến chuyện đó sao? Một khối bê-tông và một cái hồ thật sâu. Nghe gần giống một tiểu thuyết trinh thám Mỹ.

- Thiết bị ấy được chế tạo ở Nga, - Erlendur nhận xét. - Cái thiết bị buộc vào xác chết, à không, vào bộ xương ấy...

- Điều đó cũng chẳng giúp ích được bao nhiêu, - viên bí thư đáp. - Ở đây còn có sứ quán hoặc phái đoàn của những nước Đông Âu khác, họ cũng sử dụng các thiết bị từ Liên Xô cũ. Chưa chắc chuyện này có liên quan gì đến cơ quan của chúng tôi.

- Chúng tôi có một bản mô tả chi tiết hơn về thiết bị ấy, kèm theo ảnh chụp, - Elinborg nói tiếp, đưa tài liệu và hình ảnh cho ông ta. - Ông có thể cho chúng tôi biết nó được dùng vào việc gì không? Và ai đã sử dụng nó?

- Tiếc là tôi không biết thiết bị này, - viên bí thư đáp, vừa xem những tấm ảnh. - Tôi sẽ tìm hiểu. Nhưng dù chúng tôi có biết đi nữa thì cũng chẳng giúp được các ông bao nhiêu.

- Dù sao cũng đáng thử, phải không? - Erlendur hỏi.

Viên bí thư mỉm cười.

- Các ông phải tin tôi. Bộ xương được tìm thấy dưới đáy hồ ấy chẳng có liên quan gì đến sứ quán này, cũng chẳng liên quan đến bất cứ nhân viên nào của chúng tôi. Trước đây cũng vậy mà bây giờ cũng vậy.

- Chúng tôi cho rằng đó là một thiết bị nghe lén, - Elinborg nói. - Nó bắt tần số phát sóng trước đây của quân đội Mỹ ở vùng đất hoang Midnesheidi.

- Chuyện đó thì tôi không thể trả lời, - viên bí thư sốt ruột nói, liếc nhìn đồng hồ. Buổi đánh golf đang chờ ông ta.

- Nếu giả sử trước đây các ông từng làm gián điệp - dĩ nhiên là không phải - thì điều gì có thể khiến các ông chú ý? - Erlendur hỏi.

Viên bí thư thoáng ngập ngừng.

- Nếu chúng tôi từng làm bất cứ chuyện gì kiểu ấy, thì dĩ nhiên chúng tôi sẽ theo dõi căn cứ quân sự, việc vận chuyển trang thiết bị, tàu quân sự, máy bay, tàu ngầm. Chúng tôi sẽ tìm hiểu thông tin về những người trên đó. Tôi chẳng nói điều gì mà các ông chưa biết. Chúng tôi sẽ muốn biết thêm về hoạt động của căn cứ và những cơ sở quân sự khác ở Iceland. Có rất nhiều cơ sở như thế trên khắp đất nước, chứ không chỉ ở Keflavik. Chúng tôi cũng sẽ theo dõi hoạt động của các sứ quán khác, tình hình chính trị trong nước, các đảng phái và những chuyện đại loại như vậy.

- Năm 1973, người ta đã vớt được một loạt thiết bị ở hồ Kleifarvatn, - Erlendur cho ông ta biết. - Máy phát, máy thu sóng ngắn, băng từ, thậm chí cả radio. Phần lớn đều xuất xứ từ Liên Xô.

- Tôi không biết chuyện này, - viên bí thư đáp.

- Không, dĩ nhiên là ông không biết, - Erlendur nhận xét. - Nhưng có lẽ ông biết tại sao tất cả những thứ ấy lại bị vứt xuống nước. Có quy định cụ thể nào về việc loại bỏ những thiết bị cũ không?

- Tôi e rằng mình chẳng thể giúp được các ông bao nhiêu trong chuyện này, - viên bí thư nói, nụ cười đã biến mất. - Tôi đã cố trả lời hết sức mình, nhưng có những chuyện tôi hoàn toàn không biết. Chỉ đơn giản vậy thôi.

Erlendur và Elinborg đứng dậy. Ở người đàn ông này có một vẻ tự mãn khiến Erlendur không ưa. Căn cứ quân sự của các ông! Ông ta biết gì về những vấn đề quốc phòng của Iceland chứ?

- Có phải đó là những thiết bị đã lỗi thời, chẳng có lý do gì phải gửi trả bằng túi ngoại giao? - Erlendur hỏi. - Chẳng lẽ không thể đem chúng ra bãi rác cùng những thứ rác khác? Những thiết bị ấy đâu phải là bằng chứng xác thực rằng hồi ấy người ta từng làm gián điệp ở Iceland, vào cái thời thế giới còn đơn giản hơn và những ranh giới phân chia còn rõ ràng hơn.

- Các ông cứ tha hồ mà bàn luận về chuyện ấy, - viên bí thư đáp. - Còn tôi thì đang có người chờ.

- Có thể người đàn ông được tìm thấy ở Kleifarvatn là người của sứ quán các ông không?

- Không.

- Hay của một phái đoàn khác thuộc các nước Đông Âu?

- Tôi nghĩ khả năng đó có thể loại trừ. Bây giờ tôi phải yêu cầu các ông...

- Trong thời gian ấy, bên ông có ai mất tích không?

- Không.

- Ông có thể trả lời ngay như vậy mà không cần kiểm tra sao?

- Tôi đã kiểm tra rồi. Không có ai mất tích.

- Không có ai biến mất không để lại dấu vết mà ông không biết chuyện gì xảy ra với họ sao?

- Xin chào hai vị, - viên bí thư đáp, mỉm cười.

Ông ta đã mở cửa cho họ.

- Ông chắc chắn không có ai mất tích chứ? - Erlendur vẫn hỏi khi bước ra hành lang.

- Không có ai cả, - viên bí thư kết luận, rồi đóng sập cửa ngay trước mặt họ.

Sigurdur Oli bị từ chối một cuộc gặp với đại sứ Hoa Kỳ hoặc một trong những cấp dưới của ông ta. Thay vào đó, anh nhận được một bản thông báo mật, trong đó nói rằng không có người Mỹ nào ở Iceland mất tích trong khoảng thời gian nói trên.

Sigurdur Oli không chịu bỏ cuộc, muốn cảnh sát yêu cầu một cuộc gặp, nhưng đề nghị của anh bị gạt đi trong cuộc họp của ban chỉ huy phòng Hình sự. Cảnh sát phải có những bằng chứng cụ thể cho thấy có mối liên hệ giữa bộ xương dưới hồ với sứ quán Hoa Kỳ, căn cứ quân sự, hoặc những công dân Mỹ từng ở Iceland thì mới có thể yêu cầu một cuộc gặp như vậy.

Giả thuyết có khả năng nhất là bộ xương này liên quan đến hoạt động gián điệp ở Iceland và người chết là một công dân nước ngoài. Sigurdur Oli đã gọi điện cho một người bạn là trưởng phòng Quốc phòng thuộc Bộ Ngoại giao, hỏi xem ông ta có thể tìm được những cựu nhân viên nào có khả năng cung cấp cho cảnh sát thông tin về nhân viên các sứ quán từng đặt tại Iceland trong những năm sáu mươi và bảy mươi.

Anh cố tiết lộ càng ít càng tốt về cuộc điều tra, nhưng vẫn kể đủ để khơi dậy sự tò mò của người bạn. Người này hứa sẽ liên lạc lại với anh.

Cầm ly rượu vang trắng trên tay, Erlendur cảm thấy mình lạc lõng. Ông nhìn đám đông đến dự buổi tiệc nhân dịp cuốn sách của Elinborg được xuất bản. Ông đã rất khó quyết định có nên đến hay không, nhưng cuối cùng vẫn tới.

Những cuộc giao tiếp xã giao khiến ông chán ngán, ít nhất là cái số ít mà ông gặp phải. Ông nhấp một ngụm vang trắng rồi nhăn mặt. Rượu chua. Ông tiếc nuối nghĩ đến chai chartreuse đang chờ mình ở nhà.

Ông mỉm cười với Elinborg, lúc này đang chìm giữa biển người; cô vẫy tay đáp lại. Cô đang nói chuyện với các nhà báo. Việc một nữ cảnh sát phòng Hình sự Reykjavik xuất bản một cuốn sách nấu ăn khiến nhiều người tò mò, và Erlendur vui khi thấy Elinborg được người ta chú ý như vậy.

Có lần cô mời ông đến nhà ăn cơm cùng Sigurdur Oli và vợ anh, Bergthora. Cô đã thử một món gà kiểu Ấn Độ mới trên hai người họ; cô nói công thức món ấy sẽ có trong cuốn sách.

Món ăn ấy đặc biệt ngon, thực sự là một món tuyệt hảo. Họ khen Elinborg đến mức cô đỏ mặt như hoa mẫu đơn.

Erlendur chẳng quen biết mấy ai ở đây, ngoài vài cảnh sát. Ông thấy nhẹ nhõm khi trông thấy Sigurdur Oli và Bergthora tiến về phía mình.

- Anh cũng phải cố cười một chút khi gặp bọn em chứ, - Bergthora nói, hôn lên má ông.

Ông cụng ly với hai người rồi nâng cốc chúc mừng Elinborg.

- Vậy khi nào anh mới giới thiệu người đàn bà anh đang quen cho bọn em biết? - Bergthora hỏi.

Erlendur thấy Sigurdur Oli cứng người bên cạnh vợ. Cả phòng Hình sự đều chỉ nói về chuyện ấy, nhưng rất ít người dám hỏi thẳng.

- Có lẽ để tới sinh nhật tám mươi tuổi của em! - Erlendur đáp.

- Lúc đó chắc cô ấy biến mất từ lâu rồi, phải không? - Bergthora hỏi.

Erlendur chỉ mỉm cười.

- Cả đám người này là ai vậy? - Bergthora hỏi, đưa mắt nhìn khắp phòng.

- Anh chỉ biết mấy người là cảnh sát thôi, - Sigurdur Oli nhận xét. - Còn những người béo tốt kia chắc đều là người quen của Elinborg.

- À, kìa Teddi, - Bergthora nói, vẫy tay với chồng Elinborg.

Có người gõ thìa vào thành ly, tiếng ồn ào trong phòng dần im xuống. Một người đàn ông đang nói từ một góc xa của phòng; họ không nghe rõ ông ta nói gì nhưng mọi người đều cười. Họ thấy Elinborg len qua đám đông, lấy bài diễn văn đã chuẩn bị ra.

Họ tiến lại gần để nghe, và nghe được phần kết, khi cô cảm ơn gia đình cùng các đồng nghiệp cảnh sát vì sự kiên nhẫn và ủng hộ. Sau đó là tiếng vỗ tay.

- Mọi người còn định ở đây lâu nữa không? - Erlendur hỏi, như thể ông sắp bỏ buổi tiệc.

- Thả lỏng một chút đi! - Bergthora nói. - Nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống. Làm một trận say cho biết!

Cô chộp lấy một ly vang trắng trên chiếc khay gần nhất.

- Nào, uống cạn đi!

Elinborg xuất hiện giữa đám đông. Cô đến hôn má họ, hỏi họ có thấy chán không. Cô nhìn Erlendur đang nốc một ngụm vang trắng chua.

Cô và Bergthora bắt đầu nói về một người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng đang đi ngang qua họ cùng một vị giám đốc nào đó.

Sigurdur Oli bắt tay một người mà Erlendur không quen. Ông định lẻn đi thì chạm mặt một đồng nghiệp cũ. Người này sắp về hưu. Erlendur biết ông ta rất sợ chuyện đó.

- Anh nghe chuyện Marion chưa? - người đàn ông hỏi, nhấp một ngụm vang trắng. - Nghe nói phổi bà ấy hỏng hết rồi. Bà ấy nằm nhà chịu khổ sở kinh khủng.

- Ừ, đúng vậy, - Erlendur đáp. - Với cả xem phim cao bồi nữa.

- Anh là người đang tìm hiểu về chiếc Falcon phải không? - người đàn ông hỏi, uống cạn ly rồi lấy thêm một ly khác trên chiếc khay vừa đi ngang qua.

- Chiếc Falcon?

- Ừ. Tôi nghe nói ở đồn. Anh đang tìm thông tin về những vụ mất tích vì vụ phát hiện bộ xương ở hồ Kleifarvatn.

- Anh còn nhớ chiếc Falcon ấy à? - Erlendur hỏi.

- Không, không nhớ rõ lắm. Bọn mình tìm thấy nó trước bến xe khách. Niels phụ trách cuộc điều tra. Tôi vừa thấy anh ta lúc nãy. À mà này, con nhỏ ấy cho ra một cuốn sách đẹp thật, - ông ta nói thêm. - Ảnh đẹp, hả?

- Tôi nghĩ “con nhỏ” ấy cũng phải ngoài năm mươi rồi, - Erlendur nhận xét. - Nhưng đúng là sách của cô ấy rất hay.

Ông đưa mắt nhìn quanh tìm Niels và thấy anh ta đang ngồi trên bậu cửa sổ rộng. Erlendur bước lại ngồi bên cạnh và chợt nghĩ không biết bao nhiêu lần mình đã ghen tị với người đàn ông này.

Niels có một sự nghiệp cảnh sát lâu dài phía sau, cùng một gia đình mà bất cứ ai cũng phải tự hào. Vợ anh ta là một họa sĩ nổi tiếng. Họ có bốn người con đầy triển vọng, tất cả đều đã học đại học rồi lần lượt sinh cho họ những đứa cháu. Hai vợ chồng sở hữu một căn biệt thự bề thế ở ngoại ô Grafarvogur, một ngôi nhà được chính người vợ thiết kế tuyệt đẹp, hai chiếc xe hơi, và chẳng có gì có thể phủ bóng lên hạnh phúc hoàn hảo của họ.

Erlendur đôi khi tự hỏi liệu một người có thể có một cuộc đời vừa hạnh phúc vừa thành đạt như Niels hay không.

Hai người không phải bạn thân. Erlendur luôn coi Niels là một tay lười biếng chính hiệu, chẳng có chỗ trong phòng Hình sự. Và sự thành công trong đời tư của anh ta cũng chẳng làm dịu bớt ác cảm Erlendur dành cho anh ta.

- Marion rõ ràng bệnh rất nặng, - Niels nói khi Erlendur ngồi xuống cạnh mình.

- Bà ấy chắc còn nhiều thời gian phía trước, - Erlendur khẳng định, dù trong lòng biết điều ngược lại. - Còn anh, dạo này thế nào?

Ông hỏi chỉ vì phép lịch sự, bởi ông vốn luôn biết rõ Niels sống ra sao.

- Tôi chẳng còn hiểu nổi gì nữa, - Niels bắt đầu. - Cuối tuần vừa rồi, bọn tôi bắt một thằng đột nhập năm lần. Lần nào nó cũng nhận tội, rồi được thả vì vụ việc coi như đã giải quyết xong. Rồi nó lại tiếp tục: đột nhập một chỗ nào đó, nhận tội, được thả, rồi lại tiếp tục. Cái trò quái quỷ gì vậy? Sao không nghĩ ra cách tống mấy thằng ngu này vào tù luôn đi? Thay vào đó, chúng cứ tích lũy hết vụ này đến vụ khác, có khi đến hai chục vụ, rồi mới bị đưa ra xét xử, bị kết án mức tối thiểu, sau đó lại được thả với án treo, rồi chẳng bao lâu chúng tôi lại bắt chính những thằng khốn đó. Cứ giậm chân tại chỗ mãi như thế để làm gì? Sao không cứ xử chúng cho đúng tội?

- Chẳng có bộ máy nào tệ hơn hệ thống tư pháp Iceland, - Erlendur đáp.

- Mấy thằng ranh con ấy coi thường thẩm phán ra mặt, - Niels tức tối. - Đấy là tôi còn chưa nói đến bọn hiếp dâm trẻ em. Hay những vụ hành hung có tính chất bạo lực!

Hai người im lặng một lúc. Chuyện những mức án quá nhẹ khiến cả hai viên cảnh sát nóng mặt; họ từng bắt giữ những kẻ phạm pháp, những tên hiếp dâm, những kẻ ấu dâm, rồi sau đó lại biết chúng chỉ bị những bản án nhẹ hều, thậm chí còn được hưởng án treo.

- Chuyện khác, - Erlendur nói tiếp. - Anh còn nhớ người đàn ông bán máy nông nghiệp không? Ông ta có một chiếc Ford Falcon. Rồi biến mất như thể đất đã nuốt chửng ông ta.

- Anh muốn nói chiếc xe trước bến xe khách à?

- Ừ.

- Người đàn ông ấy có một bà vợ rất dễ thương. Tôi tự hỏi không biết bà ấy giờ ra sao.

- Vẫn như trước thôi, - Erlendur đáp. - Một bánh xe thiếu cái nắp chụp, anh nhớ không?

- Bọn tôi cho rằng nó bị lấy trộm trước bến xe. Cả vụ ấy chẳng có gì mang tính hình sự, ngoại trừ, có lẽ, cái nắp chụp bị mất. Nếu quả thật nó bị lấy trộm. Cũng có thể xe đã đụng vào lề đường và cái nắp tự rơi ra. Dù sao chúng tôi cũng không tìm thấy nó. Cũng như không tìm thấy chủ chiếc xe.

- Tại sao ông ta lại tự tử? - Erlendur hỏi. - Mọi chuyện đều đang thuận lợi, ông ta có một người vợ đẹp. Tương lai rộng mở trước mắt. Ông ta vừa mua một chiếc Ford Falcon.

- Anh biết rồi đấy, những chuyện ấy chẳng thay đổi được gì khi người ta đã quyết định tự tử, - Niels nhận xét.

- Anh nghĩ ông ta đã mua vé để lên xe khách à?

- Nếu tôi nhớ không lầm thì hồi đó chúng tôi thấy khả năng ấy rất thấp. Bọn tôi đã hỏi các tài xế, nhưng chẳng ai nhớ ông ta. Dù vậy, điều đó cũng không chứng minh được là ông ta không rời thành phố bằng xe khách.

- Anh tin ông ta tự tử.

- Ừ, - Niels đáp, - nhưng...

Anh ta ngập ngừng.

- Nhưng gì? - Erlendur hỏi dồn.

- Người đàn ông ấy đã bịa ra cả một câu chuyện, - Niels nói tiếp.

- Nghĩa là sao?

- Vợ ông ta nói ông ta tên Leopold, nhưng bọn tôi không tìm thấy ai mang tên ấy sinh đúng năm bà ấy cho biết. Trong hồ sơ của chúng tôi cũng không có ai, mà trong hồ sơ của Cơ quan Đăng ký Dân số cũng không. Không giấy khai sinh, không bằng lái xe. Không có Leopold nào khớp với người đàn ông ấy.

- Ý anh là sao?

- Hoặc tất cả hồ sơ về ông ta đều bị thất lạc, hoặc...

- Hoặc ông ta đã lừa bà vợ?

- Dù sao thì tên ông ta không phải Leopold, - Niels nhắc lại.

- Còn bà ấy? Khi các anh hỏi chuyện đó, bà ấy nói sao?

- Chúng tôi có cảm giác ông ta đã đùa cợt với bà ấy, - cuối cùng Niels giải thích. - Bọn tôi thấy tội bà ấy. Bà ấy thậm chí không có nổi một tấm ảnh của ông ta. Chúng ta có thể suy ra điều gì từ đó? Rằng bà ấy hầu như chẳng biết gì về người đàn ông ấy.

- Rồi sao?

- Bọn tôi không nói gì với bà ấy.

- Không nói gì?

- Thì, nói rằng chúng tôi chẳng có lấy một hồ sơ nào về cái ông Leopold nổi tiếng ấy của bà. - Niels nói rõ. - Bọn tôi thấy mọi chuyện đã quá rõ ràng. Ông ta đã nói dối bà ấy trước khi bỏ đi.

Erlendur im lặng, suy nghĩ về những gì người đồng nghiệp đang kể.

- Chúng tôi làm vậy chỉ vì thương bà ấy thôi, - Niels phân trần.

- Vậy đến hôm nay bà ấy vẫn chưa biết gì sao?

- Tôi nghĩ là chưa.

- Tại sao anh lại giấu bà ấy chuyện đó?

- Có lẽ chỉ vì lòng tốt.

- Bà ấy vẫn đang chờ ông ta, - Erlendur nhận xét. - Họ định cưới nhau mà.

- Ừ, đó là điều ông ta đã khiến bà ấy tin trước khi biến mất.

- Nhưng nếu ông ta bị sát hại thì sao?

- Chúng tôi thấy khả năng ấy rất thấp. Kiểu lừa dối này có thể hiếm, nhưng không phải chưa từng xảy ra. Có những người đàn ông nói dối phụ nữ để kiếm được một thứ gì đó, nói sao nhỉ... một lợi ích nào đó. Sau đó họ tìm cách biến mất. Tôi nghĩ trong thâm tâm bà ấy cũng hiểu điều đó. Chúng tôi chẳng cần phải nói gì với bà ấy.

- Còn chiếc xe?

- Đứng tên bà ấy. Khoản vay cũng đứng tên bà ấy. Bà ấy mới là chủ xe.

- Lẽ ra các anh phải nói cho bà ấy biết tất cả chuyện này.

- Có lẽ vậy. Nhưng nói ra thì giúp được gì cho bà ấy? Chẳng qua chỉ cho bà ấy biết người đàn ông mình yêu là một tên lừa đảo đã đùa cợt với bà ấy. Ông ta chẳng nói gì về gia đình mình. Bà ấy chẳng biết gì về ông ta. Ông ta không có bạn bè. Ông ta dành rất nhiều thời gian đi các tỉnh vì công việc. Nói ra thì giúp được gì cho anh?

- Nhưng dù sao bà ấy vẫn biết mình yêu ông ta, - Erlendur đáp.

- Và đó là phần thưởng.

- Người nông dân mà ông ta có hẹn, ông ta đã nói gì với các anh?

- Anh cứ tìm trong biên bản, - Niels đáp, gật đầu rồi mỉm cười với Elinborg, lúc này đang mải trò chuyện với nhà xuất bản của mình. Elinborg từng nói với họ rằng ông ta tên Anton.

- Anh thừa biết chẳng phải chuyện gì cũng được ghi trong biên bản.

- Người đàn ông ấy chưa bao giờ đến gặp người nông dân, - Niels đáp.

Erlendur thấy anh ta cố nhớ lại những chi tiết nhỏ nhặt của cuộc điều tra. Ai cũng nhớ những cuộc điều tra lớn, những vụ giết người, những vụ mất tích, mỗi lần bắt giữ quan trọng, mỗi vụ hành hung nghiêm trọng hay mỗi vụ hiếp dâm.

- Việc kiểm tra chiếc Falcon có giúp các anh biết ông ta có đến gặp người nông dân hay không?

- Chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào cho thấy ông ta từng đến trang trại ấy.

- Các anh có lấy số đo không?

- Tôi nhớ là có, nhưng hồi đó chúng tôi kém thành thạo hơn bây giờ rất nhiều. Chúng tôi đã kiểm tra hết mức có thể, với những phương tiện thời đó.

- Các anh có lấy số đo trên sàn phía trước xe không? Dưới bàn đạp ấy?

- Có ghi trong biên bản.

- Tôi chẳng tìm thấy gì về chuyện đó. Các anh lẽ ra có thể biết ông ta có đến thăm người nông dân ấy hay không. Ông ta hẳn đã mang đất từ đó về trên giày.

- Erlendur, vụ ấy chẳng có gì phức tạp và không ai muốn làm cho nó phức tạp thêm. Người đàn ông ấy mất tích. Có thể ông ta đã tự tử. Anh biết rõ không phải lúc nào chúng ta cũng tìm được xác. Mà ngay cả nếu có tìm thấy đất dưới bàn đạp thì đất ấy cũng có thể từ bất cứ đâu. Ông ta đi công tác rất nhiều, làm đại diện bán máy nông nghiệp.

- Đồng nghiệp của ông ta nói gì?

Niels suy nghĩ một lúc.

- Chuyện đó lâu lắm rồi, Erlendur.

- Cố nhớ lại đi.

- Ông ta không phải nhân viên ăn lương. Tôi nhớ điều đó vì hồi ấy chuyện này khá hiếm. Ông ta làm việc theo phần trăm và cũng được trả tiền hoa hồng.

- Nghĩa là ông ta tự lo các khoản bảo hiểm xã hội và thuế má.

- Như tôi đã nói, chẳng có dấu vết gì về ông ta trong hồ sơ dưới cái tên Leopold. Hoàn toàn không có gì.

- Vậy anh nghĩ ông ta coi người phụ nữ này là nhân tình mỗi khi đến Reykjavik, còn thật ra sống ở đâu đó, chẳng hạn ở một tỉnh nào đó.

- Có khi ông ta còn có cả một gia đình, - Niels nói thêm. - Loại người như vậy thiếu gì.

Erlendur nhấp một ngụm vang trắng, mắt nhìn chiếc cà vạt thắt hoàn hảo dưới cổ áo sơ mi của Niels. Anh ta chẳng có chút gì giống một thanh tra cảnh sát giỏi. Trong đầu anh ta, chẳng có cuộc điều tra nào là phức tạp cả.

- Lẽ ra anh phải nói sự thật cho bà ấy biết.

- Có lẽ bà ấy vẫn giữ những kỷ niệm đẹp về người đàn ông ấy. Chúng tôi chưa bao giờ xem vụ này là một vụ án hình sự. Vì thế cũng chẳng điều tra vụ mất tích theo hướng án mạng; vả lại, chúng tôi không tìm thấy dấu hiệu nào đủ để biện minh cho một cuộc điều tra như vậy.

Hai người im lặng một lúc. Tiếng ồn ào của đám đông không ngớt.

- Anh vẫn còn mải mê với những vụ mất tích ấy à? - Niels hỏi. - Tại sao anh lại quan tâm đến chuyện đó? Rốt cuộc anh đang tìm gì?

- Tôi không biết, - Erlendur đáp.

- Đây chỉ là một vụ mất tích hoàn toàn bình thường, - Niels nói tiếp. - Phải có thêm điều gì đó thì mới đủ để mở một cuộc điều tra án mạng. Chúng tôi chẳng có bằng chứng nào cho phép làm vậy.

- Không, tôi cũng đoán là không.

- Anh không bao giờ chán chuyện này sao?

- Có chứ, đôi khi.

- Còn con gái anh, nó vẫn gây ra lắm chuyện như vậy à? - Niels hỏi, với cái nhìn của một người có bốn đứa con đều đã học đại học, rồi lập những gia đình tốt đẹp và sống những cuộc đời hoàn hảo, không tì vết như chính cuộc đời của ông ấy.

Erlendur biết cả lực lượng cảnh sát đều biết chuyện Eva Lind bị bắt, cũng như cách cô đã hành hung Sigurdur Oli. Cô thỉnh thoảng vẫn gặp rắc rối với cảnh sát, nhưng chẳng được ưu ái chút nào chỉ vì cô là con gái Erlendur. Rõ ràng Niels cũng đã nghe được chuyện xảy ra.

Erlendur nhìn anh ta, bộ quần áo chỉn chu và những móng tay được cắt sửa cẩn thận, rồi tự hỏi liệu hạnh phúc có khả năng khiến người ta trở nên chán ngắt đến vô duyên hay không.

- Ừ, - Erlendur xác nhận. - Nó vẫn dở chứng như vậy.


CHƯƠNG 12

Tối hôm ấy, khi Erlendur về đến nhà, Sindri không có ở đó đón ông. Gần nửa đêm, lúc Erlendur đi ngủ, cậu vẫn chưa về. Cậu chẳng để lại lời nhắn nào, cũng không để lại số điện thoại để có thể liên lạc. Erlendur thấy thiếu sự có mặt của con trai. Ông gọi tổng đài hỏi số điện thoại, nhưng số di động của Sindri không có trong danh bạ.

Ông vừa thiu thiu ngủ thì điện thoại reo. Là Eva Lind.

- Ba biết không, ở đây họ chích thuốc cho người ta đấy, - cô nói, giọng líu ríu.

- Ba đang ngủ, - Erlendur nói dối.

- Họ nhồi cho người ta đủ thứ thuốc, - Eva nói. - Con chưa bao giờ phê thuốc dữ như vậy trong đời. Ba đang làm gì đó?

- Ba đang cố ngủ, - Erlendur đáp. - Còn con, lại gây ra chuyện gì nữa hả?

- Hôm nay Sindri có ghé qua, - Eva nói, chẳng buồn trả lời câu hỏi của ông.

- Con biết nó đang ở đâu không?

- Nó không ở nhà ba à?

- Ba nghĩ nó đi rồi. Có lẽ nó ở nhà mẹ con. Này, cái viện này cho phép các con gọi điện bất cứ giờ nào vậy?

- Con cũng vui khi nghe giọng ba, - Eva Lind đáp lại. - Cho ba biết luôn, con chẳng làm chuyện gì dại dột cả.

Nói xong, cô cúp máy ngang.

Erlendur nằm yên, mắt nhìn chằm chằm vào bóng tối. Ông nghĩ đến Eva Lind và Sindri Snaer, hai đứa con của mình, và người mẹ của chúng, người vẫn căm ghét ông. Ông nghĩ đến người em trai mà ông đã bỏ ra bao nhiêu năm trời tìm kiếm mà chẳng thấy đâu. Hài cốt của em vẫn còn nằm ở một nơi nào đó. Có thể dưới đáy một khe núi sâu, có thể trên núi cao, cao hơn nhiều so với nơi ông từng nghĩ tới. Vậy mà ông đã từng leo lên rất cao, cố tính toán xem một đứa bé tám tuổi có thể đi được bao xa trong một cơn bão tuyết.

Con không bao giờ thấy chán sao?

Con không bao giờ mệt mỏi với cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ này sao?

Gần giữa trưa hôm sau, Hermann Albertsson ra tận cửa đón Erlendur. Đó là một người đàn ông mảnh khảnh ngoài sáu mươi, cử chỉ nhanh nhẹn, mặc quần jean sờn cũ và áo sơ mi vải bông kẻ ca-rô đỏ. Ông ta cười rất tươi, chẳng tiếc gì nụ cười. Từ trong bếp thoảng ra mùi cá tuyết luộc. Hermann cho Erlendur biết ông ta sống một mình, và xưa nay vẫn vậy, dù chẳng ai hỏi. Người ông ta phảng phất mùi dầu nhớt.

- Ông dùng chút cá tuyết nhé? - ông ta hỏi Erlendur khi dẫn ông vào bếp.

Erlendur dứt khoát từ chối, nhưng Hermann chẳng buồn nghe. Ông ta đặt lên bàn một đĩa cá dành cho Erlendur, và chỉ trong nháy mắt, ông đã ngồi đó cùng một người đàn ông hoàn toàn xa lạ, thưởng thức cá tuyết luộc với khoai tây và một miếng bơ.

Cả hai đều ăn luôn cả da cá và lớp vỏ dày của khoai tây. Erlendur bất chợt nghĩ đến Elinborg và cuốn sách nấu ăn của cô. Trong lúc viết sách, cô từng đem món cá thầy tu sốt chanh xanh ra thử trên ông; món ăn vàng ươm vì cô đã cho vào đó nửa cân bơ. Cô mất cả một ngày trời để cô đặc nước dùng cho đến khi dưới đáy nồi chỉ còn lại bốn thìa súp, phần tinh túy của món cá thầy tu. Cô thức suốt đêm để hớt bọt nước dùng.

Everything is in the sauce - đó là câu cửa miệng của Elinborg.

Erlendur thầm mỉm cười. Món cá tuyết luộc của Hermann cũng chẳng tệ chút nào.

- Chính tôi là người phục chế chiếc Falcon này, - Hermann nói, vừa nhét một miếng khoai tây lớn vào miệng.

Ông làm nghề thợ máy, thời gian rảnh thì sửa sang những chiếc xe cũ rồi tìm cách bán lại. Ông giải thích với Erlendur rằng chuyện này ngày càng khó khăn. Chẳng còn ai quan tâm đến xe cũ nữa; người ta chỉ thích những chiếc jeep bóng loáng, chưa bao giờ phải chạy trên địa hình gồ ghề hơn cái ngã tư lớn trên đại lộ Miklabraut.

- Ông vẫn còn giữ nó chứ? - Erlendur hỏi.

- Tôi bán nó năm 1987 rồi, - Hermann đáp. - Bây giờ tôi có một chiếc Chrysler đời 79, gần như một chiếc limousine. Cũng phải... để tôi tính xem, sáu năm nay tôi cứ mất bao nhiêu thời gian chui xuống gầm nó.

- Ông kiếm được gì từ nó không? - Erlendur hỏi.

- Chẳng được gì cả. Mà tôi cũng chẳng muốn bán nó, - Hermann nói, rồi mời ông dùng cà phê.

- Hồi còn sở hữu chiếc Falcon, ông không đăng ký nó dưới tên mình sao?

- Không. Nó chưa bao giờ có biển số. Tôi chăm sóc nó trong vài năm và rất hài lòng với nó. Thỉnh thoảng tôi lái nó đi một vòng quanh khu này; còn khi muốn chạy tới Thingvellir hay đâu đó xa hơn, tôi gắn biển số của chiếc xe khác lên. Tôi chẳng thấy cần phải mua bảo hiểm cho nó.

- Chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào của nó trong hồ sơ đăng ký, - Erlendur nói. - Có lẽ người chủ mới cũng không đăng ký nó.

Hermann rót cà phê vào hai tách.

- Cũng chưa chắc. Có khi ông ta chán nó rồi đem đến bãi phế liệu.

- Cho tôi hỏi, mấy cái nắp chụp bánh xe trên chiếc Falcon có đặc biệt đẹp hoặc được người ta săn tìm không?

Erlendur đã nhờ Elinborg tìm trên mạng, và họ tìm được trên trang ford.com một đường dẫn tới những bức ảnh các mẫu Falcon cũ. Có một chiếc màu đen, và trong tấm ảnh Elinborg in ra, những chiếc nắp chụp bánh xe hiện lên rất rõ.

- Nói sao nhỉ, chúng cũng khá đẹp, có tính trang trí, - Hermann đáp, vẻ trầm ngâm. - Cũng như những chiếc nắp chụp bánh xe trên tất cả các xe Mỹ khác.

- Hồi đó thiếu mất một cái, - Erlendur nói tiếp.

- Vậy à?

- Lúc ông có chiếc xe này, ông có mua một cái mới để thay không?

- Không. Một người chủ trước tôi đã thay chúng rồi. Lúc tôi nhận chiếc xe, những cái nắp chụp nguyên bản đã không còn nữa.

- Đó có phải một chiếc xe đáng chú ý không?

- Điều đáng chú ý ở nó là nó không lớn, - Hermann đáp. - Không phải loại “rồng” hay “bê” Mỹ khổng lồ, như người ta gọi những chiếc xe gia đình to đùng ở bên đó. Như chiếc Chevrolet của tôi ấy. Đây là một chiếc xe nhỏ xinh, lái rất thích. Chẳng phải xe sang gì đâu, còn lâu mới tới mức đó.

Người chủ mới hóa ra là một góa phụ, lớn hơn Erlendur một chút. Bà sống ở Kopavogur. Chồng bà, một người thợ mộc mê xe hơi, đã qua đời vì đau tim vài năm trước.

- Nó còn tốt lắm, - bà nói khi mở cửa ga-ra cho Erlendur, khiến ông không biết bà đang nói về chiếc xe hay về người chồng.

Chiếc xe được phủ một tấm bạt dày. Erlendur xin bà gỡ tấm bạt ra. Người phụ nữ gật đầu.

- Chồng tôi chăm chút nó hết sức, - bà giải thích bằng giọng buồn bã. - Ông ấy dành hết thời gian ở đây. Ông ấy mua những phụ tùng đắt tiền, lùng sục khắp nơi để tìm cho bằng được.

- Ông ấy có thỉnh thoảng lái nó không? - Erlendur hỏi, vừa loay hoay với một nút thắt.

- Chỉ chạy một vòng quanh nhà thôi, - người phụ nữ đáp. - Chiếc xe này còn rất tốt, nhưng chẳng đứa con trai nào của tôi muốn nó, mà chúng cũng không bán được. Hình như những chiếc xe cà tàng này chẳng còn được ai quan tâm nữa. Chồng tôi đang định đăng ký biển số cho nó thì qua đời. Ông ấy chết ngay tại đây, trong xưởng. Lúc ấy ông ấy chỉ có một mình, đang làm việc. Khi tôi thấy ông ấy không về ăn tối mà điện thoại cũng không bắt máy, tôi nhờ con trai đến xem thử, và nó thấy ông ấy nằm dưới sàn.

- Chắc hẳn đó là một cú sốc rất lớn, - Erlendur nói.

- Nhà ông ấy có bệnh tim, - người phụ nữ giải thích. - Mẹ và chú ông ấy cũng mất như vậy.

Bà quan sát Erlendur trong lúc ông gỡ tấm bạt. Bà không có vẻ gì là tiếc thương người chồng quá nhiều. Có lẽ bà đã nguôi ngoai từ lâu và đang cố gắng xây dựng lại cuộc sống.

- Tại sao chiếc xe này lại quan trọng với ông? - bà hỏi.

Bà đã hỏi câu ấy khi nói chuyện với Erlendur qua điện thoại, và ông không tìm được cách trả lời mà không tiết lộ quá nhiều về cuộc điều tra. Ông muốn tránh nói cho bà biết những chi tiết ấy. Ít nhất lúc này, ông muốn giữ chúng cho riêng mình. Thật ra, ông cũng chẳng hiểu vì sao mình cứ khăng khăng theo đuổi chiếc xe này, hay liệu nó có giúp ích được gì cho cuộc điều tra hay không.

- Nó từng liên quan đến một cuộc điều tra của cảnh sát nhiều năm trước, - ông miễn cưỡng giải thích. - Tôi chỉ muốn biết liệu nó còn nguyên vẹn hay không.

- Có phải một trong những vụ mà người ta nói đến rất nhiều không? - bà hỏi.

- Không, hoàn toàn không. Chỉ là một cuộc điều tra thường lệ thôi, - Erlendur đáp.

- Ông không tình cờ muốn mua nó đấy chứ? - người phụ nữ hỏi.

- Không, tôi không phải người mua xe. Tôi chẳng có niềm đam mê đặc biệt nào với xe cũ cả.

- Như tôi vừa nói, nó còn tốt lắm. Valdi, chồng tôi, bảo vấn đề chính là khung gầm. Nó rỉ sét nặng đến mức ông ấy phải sửa lại. Ngoài chuyện đó ra thì mọi thứ đều tốt. Valdi tháo động cơ, lau chùi tất cả các bộ phận, thiếu bộ phận nào thì ông ấy mua cái mới về thay.

Bà ngừng lại một chút.

- Ông ấy có thể bỏ rất nhiều tiền vào chiếc xe này, - bà nói tiếp. - Nhưng với tôi thì ông ấy chẳng bao giờ mua cho tôi thứ gì. Thôi thì, đàn ông là vậy mà.

Erlendur khó nhọc kéo tấm bạt, để lộ chiếc xe, rồi tấm bạt rơi xuống đất. Ông đứng nhìn một lúc chiếc Ford Falcon có những đường nét tuyệt đẹp, từng thuộc về người đàn ông mất tích trước bến xe khách năm xưa.

Ông quỳ xuống trước một trong những bánh trước. Ông hình dung chiếc xe lúc được tìm thấy với một cái nắp chụp bánh xe bị mất, rồi tự hỏi không biết giờ cái nắp ấy đã trôi dạt về đâu.

Điện thoại di động trong túi ông reo. Bên Khoa học Hình sự gọi để báo cho ông biết thêm về thiết bị được tìm thấy ở Kleifarvatn. Trưởng Khoa học Hình sự nói thẳng vào vấn đề: thiết bị có vẻ đã không còn hoạt động vào thời điểm bị dìm xuống nước.

- Vậy à? - Erlendur hỏi.

- Đúng vậy, - người đàn ông nói tiếp. - Có lẽ nó đã bị hỏng trước khi bị dìm xuống. Đáy hồ đầy cát đã làm giảm lực va đập, nhưng các bộ phận bên trong bị hư hỏng nặng đến mức chỉ riêng thời gian nằm dưới hồ không đủ để giải thích tình trạng ấy. Nó đã bị hỏng trước khi bị ném xuống hồ.

- Vậy điều đó cho chúng ta biết được điều gì đáng chú ý? - Erlendur hỏi.

- Tôi cũng chẳng biết, - trưởng Khoa học Hình sự đáp.


CHƯƠNG 13

Cặp vợ chồng ấy đang đi trên vỉa hè, người đàn ông đi trước một chút, người đàn bà theo sau. Đó là một buổi tối mùa xuân đẹp trời. Ánh nắng xuyên qua những khoảng mây, rơi xuống mặt biển. Đằng xa, có thể thấy vài cơn mưa rào. Lần này, dường như cặp vợ chồng chẳng để ý gì đến vẻ đẹp của buổi tối. Họ bước những bước dài, người đàn ông có vẻ rất buồn. Ông ta nói không ngừng, còn người đàn bà lặng lẽ đi theo, cố không để tụt lại phía sau.

Anh nhìn họ đi ngang qua cửa sổ, nhìn ánh nắng chiều, nghĩ về tuổi trẻ của mình, về thời kỳ mà thế giới bắt đầu trở nên vô cùng phức tạp, khó lòng hiểu thấu.

Cái thời mà những bất hạnh bắt đầu.

Sau khi hoàn tất xuất sắc năm thứ nhất đại học, anh trở về Iceland nghỉ hè. Suốt kỳ nghỉ, anh làm việc cho cơ quan ngôn luận của Đảng, viết bài về công cuộc tái thiết ở Leipzig. Anh kể về chuyến du học của mình trong nhiều cuộc họp khác nhau, nói về những mối liên hệ lịch sử và văn hóa gắn thành phố ấy với Iceland. Anh gặp các nhà lãnh đạo Đảng. Họ đặt nhiều kỳ vọng vào anh. Anh nóng lòng chờ ngày lại lên tàu. Anh cảm thấy mình được dành cho một vai trò nào đó, có lẽ còn quan trọng hơn những người khác. Người ta bảo anh có cả một tương lai rộng mở trước mặt.

Mùa thu, anh lại lên tàu. Chẳng bao lâu nữa anh sẽ đón lễ Giáng sinh thứ hai tại ký túc xá. Đám sinh viên Iceland nóng lòng chờ đợi, vì có người nhận được những gói quà từ Iceland, bên trong là những món ăn truyền thống ngày lễ như đùi cừu hun khói, cá muối, cá khô, cùng vài món ngọt, đôi khi cả sách nữa. Karl đã nhận được gói quà của mình. Mùi thơm của đùi cừu hun khói lan khắp ký túc xá khi cậu bắt đầu nướng cái đùi cừu tuyệt hảo gửi từ vùng Hunavatn, nơi chú ruột cậu làm nông. Trong gói quà còn có một chai Brennivín¹ mà Emil lập tức tuyên bố là của mình.

Chỉ có Rut đủ tiền về Iceland ăn Giáng sinh. Cô cũng là người duy nhất thực sự nhớ nhà đến khổ sở sau kỳ nghỉ hè, và khi cô về nước dịp Giáng sinh, cả bọn đã ngờ rằng có khi cô sẽ không quay lại nữa. Ngôi biệt thự cổ vắng vẻ hơn thường lệ, vì hầu hết sinh viên Đức đã về nhà, cùng với một số sinh viên từ các nước láng giềng được phép rời khỏi lãnh thổ, tranh thủ mua những tấm vé xe lửa giá rẻ.

Vì vậy, chẳng còn mấy người ngồi quanh cái đùi cừu và chai Brennivín mà Emil đặt giữa bàn, chỗ cậu gọi là “vị trí danh dự”. Hai sinh viên Thụy Điển trong ký túc xá mang tới khoai tây, người khác mang bắp cải tím, còn Karl cũng cố xoay xở kiếm được vài món ăn kèm cho ra hồn. Ông thầy phụ trách họ, Lothar Weiser, người đã trở nên thân thiết với đám sinh viên Iceland, thò đầu vào và được mời tham gia bữa tiệc.

Cả bọn rất quý ông ta. Lothar nói chuyện có duyên và hài hước. Ông ta có vẻ rất quan tâm đến chính trị; đôi khi ông ta hỏi ý kiến họ về trường đại học, về Leipzig, về Cộng hòa Dân chủ Đức, về Tổng bí thư Walter Ulbricht và chính sách kinh tế kế hoạch của ông ta. Ông ta hỏi họ có thấy Ulbricht quá phục tùng chính phủ Liên Xô hay không, rồi đặt nhiều câu hỏi về những sự kiện ở Hungary, nơi bọn tư bản Mỹ đang tìm cách phá hoại mối quan hệ hữu nghị giữa Liên Xô và Hungary bằng cách phát sóng radio và đủ thứ tuyên truyền chống cộng. Theo ông ta, thanh niên là những người dễ bị thứ tuyên truyền ấy mê hoặc nhất, bởi họ mù quáng trước ý đồ thật sự của các thế lực tư bản phương Tây.

¹ Brennivín là một loại rượu mạnh của Iceland, có hương caraway, thường được gọi là “Tử Thần Đen”. (Mọi chú thích đều của người dịch.)

- Mình không thể vui vẻ một chút thôi được à? - Karl lên tiếng khi Lothar nhắc đến Ulbricht, rồi uống cạn ly rượu trong một hơi. Cậu nhăn mặt nhăn mày, bảo rằng mình chưa bao giờ ưa Brennivín.

- Ja, ja, natürlich, - Lothar đồng ý. - Thôi, bỏ chuyện chính trị qua một bên.

Ông ta nói tiếng Iceland và quả quyết rằng mình đã học thứ tiếng ấy ở Đức. Cả bọn nghĩ hẳn ông ta phải là một thiên tài về ngôn ngữ, vì dù chưa từng đến Iceland, ông ta nói tiếng Iceland gần như trôi chảy chẳng khác gì họ. Họ từng hỏi ông ta làm sao đạt được trình độ ấy. Ông ta giải thích rằng ông nghe băng ghi âm, trong đó có cả những chương trình phát thanh. Ông ta buồn cười nhất khi hát bài Bí bí og blaka².

“Sắp có mưa rào đây” là câu cửa miệng ông ta thường nói.

² Bí bí og blaka là một bài hát ru truyền thống của Iceland, được biết đến rộng rãi như bài “Ánh trăng” của chúng ta. (Chú thích của người dịch.)

Trong gói quà của Karl có hai lá thư kể lại những sự kiện đáng chú ý nhất ở Iceland trong mùa thu, cùng với vài mẩu báo cắt ra. Cả bọn bàn tán về tin tức quê nhà, rồi có người nhận ra rằng, như thường lệ, Hannes lại vắng mặt.

- À, Hannes, - Lothar nhận xét, nhếch mép cười.

- Tôi có nói với anh ấy về bữa tiệc này rồi mà, - Emil nói, uống cạn một ly Brennivín.

- Sao anh ấy bí ẩn vậy nhỉ? - Hrafnhildur hỏi.

- Đúng, anh ấy kín tiếng lắm, - Lothar xác nhận.

- Tôi thấy vậy kỳ lạ thật, - Emil nói tiếp. - Anh ấy không dự họp, không dự hội thảo FDJ gì cả. Tôi chưa bao giờ thấy anh ấy tham gia lao động tình nguyện. Hay anh ấy nghĩ mình quá cao quý để tham gia công cuộc tái thiết? Chẳng lẽ chúng ta thấp kém hơn anh ấy? Anh ấy tự cho mình hơn người sao? Tomas, cậu từng nói chuyện với anh ấy mà.

- Tôi có cảm giác Hannes chỉ nóng lòng học cho xong thôi, - anh đáp, nhún vai. - Anh ấy chỉ còn một năm nữa.

- Người ta vẫn luôn nói về anh ấy như một ngôi sao thực thụ trong hàng ngũ Đảng, - Karl tiếp lời. - Lúc nào cũng nghe nhắc đến cái tên Hannes như một nhà lãnh đạo tương lai đầy triển vọng. Ở đây thì chẳng thấy anh ấy có gì hứa hẹn cả. Suốt mùa đông này tôi chỉ gặp anh ấy đúng hai lần, mà cũng chẳng nói được câu nào với tôi.

- Đúng vậy, ít khi thấy anh ấy lắm, - Lothar xác nhận. - Anh ấy hơi trầm cảm, - ông ta nói thêm, lắc đầu rồi nhấp một ngụm Brennivín, nhăn mặt.

Ở tầng dưới, họ nghe tiếng cửa chính mở ra, rồi tiếng bước chân vội vã trên cầu thang. Hai người đàn ông cùng một cô gái trẻ xuất hiện trong bóng tối cuối hành lang.

- Nghe nói các anh tổ chức đêm giao thừa kiểu Iceland, - cô gái trẻ lên tiếng khi đến ngưỡng cửa.

Cả ba đưa mắt nhìn khắp bàn tiệc. Vẫn còn đủ thịt cừu, và mọi người dọn chỗ cho họ. Một trong hai người đàn ông rút ra hai chai vodka giữa tiếng vỗ tay reo hò. Họ tự giới thiệu: hai người đàn ông đến từ Tiệp Khắc, còn cô gái là người Hungary.

Khi cô ngồi xuống bên cạnh anh, anh có cảm giác như mất hết tự chủ. Kể từ lúc cô bước ra khỏi bóng tối cuối hành lang, anh đã cố không nhìn chằm chằm vào cô. Nhưng ngay khi trông thấy cô, anh đã cảm nhận một luồng cảm xúc lạ lùng mà trước đó anh chưa từng biết mình có khả năng cảm nhận, một thứ cảm xúc khó lòng gọi tên đang tràn ngập trong lòng. Có điều gì đó kỳ lạ và tuyệt diệu đang xảy ra; anh chợt cảm thấy một niềm vui bất ngờ, xen lẫn cảm giác dễ chịu và ngượng ngùng. Chưa từng có người phụ nữ nào khiến anh cảm thấy như thế.

- Anh cũng từ Iceland tới à? - cô hỏi bằng thứ tiếng Đức hoàn hảo, quay sang phía anh.

- Vâng, tôi là người Iceland, - anh lắp bắp bằng tiếng Đức, giờ đã khá thông thạo. Anh vội rời mắt khỏi cô khi nhận ra mình đã nhìn chằm chằm cô suốt từ lúc cô ngồi xuống bên cạnh.

- Cái thứ khủng khiếp này là gì vậy? - cô hỏi, chỉ vào cái đầu cừu cháy đen trên bàn mà chẳng ai đụng tới.

- Đó là đầu cừu. Người ta cưa làm đôi rồi hơ lửa cho cháy sém, - anh giải thích.

Anh thấy cô nhăn mặt.

- Ai lại đi làm cái thứ như vậy chứ? - cô ngạc nhiên hỏi.

- Người Iceland, - anh đáp. - Thực ra ăn ngon lắm, - anh nói thêm, hơi ngập ngừng. - Lưỡi với má...

Anh dừng lại khi nhận ra cách mô tả ấy chẳng có vẻ hấp dẫn chút nào.

- Cả mắt lẫn môi mấy anh cũng ăn luôn à? - cô hỏi, vẻ mặt hoàn toàn ghê tởm.

- Môi à? Ừ, cả môi, cả mắt luôn.

- Chắc mấy anh chẳng có gì để ăn nên mới phải làm vậy thôi, - cô nhận xét.

- Đúng là dân tộc chúng tôi từng rất nghèo, - anh đáp, gật đầu.

- Tôi tên Ilona, - cô nói, chìa tay ra.

Họ bắt tay nhau. Anh giới thiệu mình tên Tomas.

Một trong hai người đàn ông đi cùng cô lên tiếng gọi. Trước mặt anh ta là một đĩa đầy thịt cừu và khoai tây; người bạn kia cũng vậy. Anh ta khuyến khích cô gái làm theo, bảo là ngon lắm. Cô đứng dậy, lấy một cái đĩa và cắt cho mình một lát thịt.

- Ăn thịt kiểu này chẳng bao giờ chán, - cô nhận xét khi ngồi xuống lại cạnh anh.

- Đúng vậy, - anh đáp, chỉ để nói cho có.

- Mmm... ngon thật đấy, - cô nói, miệng đầy thịt cừu.

- Còn ngon hơn mắt cừu ấy chứ, - anh thừa nhận.

Cả bọn vui chơi đến tận sáng. Nhiều sinh viên khác nghe tin về bữa tiệc kéo đến, căn nhà chật kín người. Có người lôi ra một cái máy hát cổ, mở nhạc Sinatra. Đêm càng khuya, những đại diện của các dân tộc khác nhau lần lượt hát những bài hát quê hương mình. Karl và Emil bắt đầu trước, hát một bài thơ đầy day dứt của Jonas Hallgrimsson³, cả hai đều say sưa nhờ gói quà từ Iceland.

³ Jonas Hallgrimsson là một nhà thơ lớn của thế kỷ XIX (1807–1845). (Chú thích của người dịch.)

Rồi đến lượt người Hungary, tiếp theo là người Tiệp, người Thụy Điển, cuối cùng là người Đức cùng một sinh viên đến từ Senegal, nhớ da diết những đêm nóng bỏng ở châu Phi. Hrafnhildur muốn biết từ đẹp nhất trong ngôn ngữ của mỗi người là gì, dẫn đến đủ thứ bàn cãi cho đến khi cả bọn đi đến đồng thuận. Rồi từng đại diện của mỗi dân tộc đứng lên, đọc những câu hay nhất từng được viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Đám Iceland thì chẳng có gì phải tranh cãi. Hrafnhildur đứng lên, ngâm những dòng đẹp nhất từng được viết bằng tiếng Iceland.

Phía trên đỉnh Aiguilles
Che khuất ngôi sao tình yêu
Là những đám mây đêm.
Ngày xưa, nó từng cười
Với chàng trai buồn bã
*Nơi đáy thung lũng.*⁴

⁴ Đây là khổ thơ đầu của bài thơ dài Ferðalok (“Cuối cuộc hành trình”), cũng do Jonas Hallgrimsson sáng tác. (Chú thích của người dịch.)

Cách ngâm thơ của Hrafnhildur đầy cảm xúc. Dù phần lớn người nghe không hiểu tiếng Iceland, cả nhóm vẫn im lặng trong giây lát trước khi tiếng vỗ tay vang lên rộn rã. Hrafnhildur cúi chào thật thấp.

Tomas và Ilona vẫn ngồi cạnh nhau bên bàn. Ilona nhìn anh dò hỏi. Anh giải thích rằng người đàn ông trong bài thơ đang hồi tưởng quá khứ, sau một chuyến đi dài qua những cao nguyên hoang vắng miền trung Iceland cùng một cô gái mà anh yêu. Chàng biết rằng hai người chẳng bao giờ có thể sống trọn vẹn tình yêu ấy, và với trái tim nặng trĩu những ý nghĩ buồn bã, chàng trở về thung lũng của mình, tuyệt vọng. Trên đầu chàng lấp lánh ngôi sao tình yêu, ngôi sao từng chỉ đường cho chàng nhưng giờ đã bị che khuất sau màn mây. Chàng tự nhủ rằng dù chẳng bao giờ được trọn vẹn bên nhau, tình yêu ấy vẫn sẽ tồn tại mãi mãi.

Cô nhìn anh khi anh nói, và dù có thể là nhờ câu chuyện về chàng trai buồn bã ấy, hay cách anh kể, hay cũng có thể là nhờ Brennivín, cô bất ngờ hôn lên môi anh, một nụ hôn dịu dàng đến mức anh có cảm giác như vừa được tái sinh.

Rut không quay lại sau kỳ nghỉ Giáng sinh. Cô gửi thư cho từng người bạn còn ở lại Leipzig. Lá thư gửi cho anh nhắc đến điều kiện sống, vài chi tiết này nọ, và anh hiểu ra rằng cô đã chán ngấy rồi. Hoặc có khi nỗi nhớ nhà đã quá mạnh. Cả bọn bàn tán về chuyện đó. Karl nói cậu tiếc cô, Emil gật đầu. Hrafnhildur khẳng định cô ấy chỉ là một cô gái đáng thương thôi.

Khi gặp Hannes, anh hỏi vì sao anh ấy không chịu đến dự đêm giao thừa ở ký túc xá. Đó là ngay sau một buổi học cơ học khá kỳ lạ, mà Hannes cũng có mặt. Chừng hai mươi phút sau khi buổi học bắt đầu, cửa phòng học mở ra, ba sinh viên tự xưng là đại diện FDJ bước vào, xin phép nói vài lời. Đi cùng họ là một sinh viên anh từng thỉnh thoảng gặp ở thư viện, hình như đang học văn học Đức. Cậu này cúi gằm mặt. Người đứng đầu tự giới thiệu là bí thư FDJ. Ông ta bắt đầu bằng bài diễn thuyết về việc sinh viên phải gắn bó với lý tưởng, nhắc lại bốn mục tiêu của việc học đại học: truyền bá chủ nghĩa Mác cho sinh viên, khiến họ trở nên tích cực về mặt xã hội, thúc đẩy họ tham gia lao động xã hội do phong trào thanh niên cộng sản tổ chức, và đào tạo ra một tầng lớp người sau này sẽ trở thành những chuyên gia trong lĩnh vực của mình.

Ông ta quay sang cậu sinh viên kia, tuyên bố rằng cậu này đã thừa nhận nghe đài phương Tây và hứa sẽ không tái phạm. Cậu sinh viên ngước mắt lên, bước lên một bước, thú nhận lỗi lầm của mình, thề sẽ không nghe đài phương Tây nữa. Cậu nói thêm rằng những đài đó bị mục ruỗng bởi chủ nghĩa đế quốc, bởi lòng tham lợi nhuận đặc trưng của hệ thống kinh tế tư bản, rồi kêu gọi mọi người chỉ nên nghe các đài phát thanh từ Đông Âu.

Ông bí thư cảm ơn cậu ta, rồi yêu cầu cả lớp làm theo, thề rằng không ai trong họ sẽ nghe đài phương Tây. Cả lớp thề. Sau đó, ông bí thư quay sang giảng viên, xin lỗi vì đã làm phiền, rồi cả đoàn rời khỏi phòng.

Ngồi hai hàng ghế phía trước anh, Hannes quay lại, ném cho anh một ánh mắt đầy buồn bã lẫn giận dữ.

Cuối buổi học, Hannes ra khỏi phòng trước anh. Tomas chạy theo, nắm lấy cánh tay anh ấy, hỏi hơi cộc lốc xem có chuyện gì không ổn.

- Vấn đề gì cơ? - Hannes lặp lại. - Cậu thấy chuyện vừa rồi chẳng có vấn đề gì à? Cậu có thấy cái cậu tội nghiệp đó không?

- Lúc nãy hả? À, tôi... thì, dĩ nhiên là phải... chúng ta cũng phải...

- Để tôi yên, - Hannes cắt lời. - Làm ơn, để tôi yên đi!

- Sao anh không đến dự đêm giao thừa? Mấy người khác nghĩ anh cho mình cao hơn bọn tôi đấy.

- Vớ vẩn, - Hannes cãi lại, bước nhanh hơn như muốn thoát khỏi anh.

- Có chuyện gì vậy? - anh hỏi. - Sao anh cư xử như vậy? Chuyện gì đã xảy ra? Bọn tôi làm gì anh à?

Hannes dừng lại giữa hành lang.

- Chẳng có gì cả, các cậu chẳng làm gì tôi hết, - anh ấy đáp. - Tôi chỉ muốn được yên thân thôi. Mùa xuân sang năm tôi học xong, rồi thế là hết! Xong hẳn. Tôi về nhà, chấm dứt hết mọi chuyện này. Cái trò hề này. Cậu không thấy à? Cậu không thấy họ vừa làm gì cậu bé đó sao? Đó là thứ cậu muốn ở Iceland à?!

Nói xong, anh ấy bỏ đi thật nhanh.

- Tomas, - anh nghe có tiếng gọi phía sau.

Anh quay lại, thấy Ilona vẫy tay. Anh cười đáp lại. Họ đã hẹn gặp nhau sau giờ học. Cô từng đến ký túc xá tìm anh ngay hôm sau bữa tiệc Giáng sinh. Từ đó, họ thường xuyên gặp nhau.

Hôm ấy, họ đi dạo thật lâu trong thành phố. Họ ngồi xuống một băng ghế cạnh nhà thờ Thánh Thomas. Anh kể cho cô nghe câu chuyện về hai người bạn Iceland của mình, hai nhà thơ từng sống ở thành phố này, từng ngồi đúng chỗ này. Một người đã qua đời vì lao phổi, người kia trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Iceland.

- Anh lúc nào cũng buồn thế khi nói về mấy người Iceland thân yêu của mình, - cô nhận xét, mỉm cười.

- Anh chỉ thấy đó là một câu chuyện thật đẹp, khi biết rằng hai nhà thơ lớn của Iceland đã từng đi trên chính những con phố này, giống như anh bây giờ.

Trong lúc ngồi cạnh nhà thờ, anh để ý thấy cô có vẻ lo lắng, như thể đang cảnh giác điều gì. Cô đưa mắt nhìn quanh, như đang tìm kiếm thứ gì đó.

- Có chuyện gì không ổn à? - anh hỏi.

- Có một người đàn ông...

Cô ngừng giữa câu.

- Người đàn ông nào?

- Người đàn ông ở đằng kia kìa, - Ilona đáp. - Đừng nhìn, đừng quay đầu lại, nhưng em đã thấy ông ta hôm qua rồi. Em không nhớ ở đâu.

- Ai vậy? Em quen ông ta à?

- Em chưa từng thấy ông ta trước đây, nhưng giờ ngày nào em cũng gặp.

- Ông ta học ở trường mình à?

- Không, em không nghĩ vậy. Ông ta lớn tuổi hơn bọn mình nhiều.

- Ý em là sao?

- Chắc chẳng có gì đâu, - Ilona đáp.

- Em nghĩ ông ta đang theo dõi em à?

- Không, chẳng có gì cả. Thôi, mình đi thôi.

Ilona không ở trong ký túc xá trường. Cô thuê một căn phòng trong thành phố, và họ đi về đó. Anh cố xem người đàn ông ở nhà thờ Thánh Thomas có bám theo họ không, nhưng chẳng thấy dấu vết gì.

Căn phòng nằm trong một căn hộ nhỏ của một góa phụ, kiếm sống bằng nghề làm việc ở một nhà in. Ilona miêu tả bà là một người phụ nữ đáng mến, nói rằng cô có thể ra vào căn hộ tùy ý. Người phụ nữ đã mất chồng và hai con trai trong chiến tranh. Anh thấy ảnh họ treo trên tường. Hai người con trai mặc quân phục Đức.

Phòng của Ilona chất đầy sách, báo Đức và Hungary, tạp chí, một chiếc máy đánh chữ cũ kỹ và một tấm nệm rơm. Cô đi vào bếp, anh lật xem sách của cô, tay khẽ gõ vài phím trên máy đánh chữ. Trên tường phía trên tấm nệm treo vài tấm ảnh; anh đoán là người thân trong gia đình cô.

Ilona quay lại với hai tách trà, dùng gót chân khép cửa lại. Cô nhẹ nhàng đặt hai tách trà lên bàn, cạnh máy đánh chữ. Rõ ràng trà còn rất nóng.

- Chắc lúc mình xong việc thì trà cũng nguội bớt rồi, - cô nói, tiến lại gần hôn anh thật lâu, thật say đắm.

Anh hơi bất ngờ, nhưng ôm chặt lấy cô, hôn lại say sưa cho đến khi cả hai ngã xuống tấm nệm. Cô bắt đầu cởi áo len của anh, mở dây thắt lưng. Anh không có nhiều kinh nghiệm. Đúng là anh từng ngủ với vài cô gái, lần đầu là sau khi tốt nghiệp trung học, lần thứ hai là ở buổi tiệc thường niên của cơ quan ngôn luận Đảng, nhưng cả hai lần đều khá vụng về. Anh không giỏi chuyện đó lắm, và vì cảm thấy cô rành rẽ hơn mình nhiều, anh vui vẻ để cô dẫn dắt.

Cô đã đoán đúng. Khi anh gục xuống ngực cô, trong lúc cô nén một tiếng rên dài, tách trà lúc đó vừa đúng độ ấm để uống.

Hai ngày sau, tại quán rượu Auerbach, cô nhất định chỉ muốn nói chuyện chính trị. Họ cãi nhau lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Cô bắt đầu kể về cuộc Cách mạng Nga, cách nó dẫn đến một chế độ độc tài, nói rằng chế độ độc tài lúc nào cũng nguy hiểm, dù dưới hình thức nào đi nữa.

Anh không muốn cãi nhau với cô, dù trong lòng biết rõ cô đang sai.

- Nhưng chính nhờ Stalin tái thiết công nghiệp mà chủ nghĩa phát xít mới bị đánh bại, - anh phản bác.

- Ông ta cũng từng ký hiệp ước với Hitler đấy, - cô nhận xét. - Chế độ độc tài sinh ra nỗi sợ hãi, đồng thời nuôi dưỡng thái độ khúm núm. Người ta đang thấy rõ điều đó ở Hungary lúc này. Chúng em không phải một dân tộc tự do. Họ đã dựng lên có hệ thống một nhà nước cộng sản dưới sự giám sát của Liên Xô. Chẳng ai từng hỏi ý kiến chúng em, những người dân, xem chúng em muốn gì. Chúng em muốn tự quản lấy mình, nhưng chúng em không có quyền đó. Thanh niên bị tống vào tù. Có người mất tích. Người ta bảo họ bị đưa sang Liên Xô. Nước anh cũng có quân đội đấy. Anh sẽ nghĩ sao nếu quân đội đó lên nắm quyền bằng vũ lực?

Anh lắc đầu.

- Nhìn vào các cuộc bầu cử mà xem, - cô tiếp tục. - Họ bảo là tự do, nhưng chỉ có một đảng duy nhất ra tranh cử. Vậy tự do ở chỗ nào? Nếu anh có ý kiến khác, anh bị tống vào tù. Đó là cái gì vậy? Đó là chủ nghĩa xã hội sao? Người dân còn có lựa chọn gì khác trong mấy cuộc bầu cử “tự do” đó? Ai mà quên được vụ bạo loạn hai năm trước? Bị chính quyền Liên Xô dập tắt, họ nổ súng vào dân ngay giữa đường phố, những người chỉ muốn cải cách thôi!

- Ilona...

- Còn cái trò giám sát lẫn nhau đó nữa! - Ilona gầm lên, càng lúc càng bức xúc. - Họ bảo mục đích là để giúp đỡ chúng em. Chúng em bị buộc phải theo dõi bạn bè, gia đình mình, tố cáo bất cứ ý kiến nào đi ngược lại chủ nghĩa xã hội. Nếu anh biết có ai trong lớp nghe đài phương Tây, anh phải tố cáo họ, rồi họ bị lôi từ lớp này sang lớp khác để thú tội. Trẻ con còn được khuyến khích tố cáo cả cha mẹ mình.

- Đảng cần thời gian để thích nghi thôi, - anh đáp.

Sau niềm hân hoan ban đầu của những ngày đầu ở Leipzig, khi thực tế dần hiện ra, đám sinh viên Iceland từng bàn luận về tình hình này. Tomas đã tự hình thành quan điểm riêng về cái xã hội giám sát này, cái mà người ta gọi là “giám sát lẫn nhau”, trong đó mỗi công dân theo dõi người khác, tố cáo những hành vi hay ý kiến đi ngược lại tinh thần xã hội chủ nghĩa. Cũng vậy với chế độ độc đảng của Đảng Cộng sản, việc kiểm duyệt báo chí, hạn chế quyền tự do ngôn luận, việc bắt buộc dự họp, dự diễu hành. Quan điểm của anh là Đảng không cần phải che giấu những biện pháp mình sử dụng, mà ngược lại, nên thừa nhận rằng trong giai đoạn chuyển đổi này, cần phải dùng đến những biện pháp ấy để đạt được mục tiêu xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những biện pháp đó là chính đáng, chừng nào chúng còn mang tính tạm thời. Trong tương lai, những biện pháp như vậy sẽ không còn cần thiết nữa, người dân sẽ tự mình nhận ra rằng chủ nghĩa xã hội là hình thức tổ chức tốt nhất có thể có.

- Người ta sợ hãi, - Ilona nói.

Anh lắc đầu, và họ cãi nhau. Anh chẳng biết nhiều về những sự kiện ở Hungary. Cô cảm thấy bị tổn thương khi nghe anh nghi ngờ lời mình. Anh cố dùng những lý lẽ mình từng nghe trong các buổi họp ở Reykjavik, lý lẽ của lãnh đạo Đảng, của phong trào thanh niên, của những gì Marx và Engels từng viết, nhưng chẳng ăn thua gì. Cô chỉ nhìn anh, lặp đi lặp lại rằng anh không có quyền nhắm mắt làm ngơ trước chuyện đó.

- Các em để cho tuyên truyền của bọn đế quốc phương Tây kích động, quay ra chống lại Liên Xô, - anh đáp. - Họ muốn phá vỡ sự đoàn kết giữa các nước cộng sản, vì họ sợ điều đó.

- Không đúng! - cô phản đối.

Cả hai im lặng. Ly bia đã cạn từ lâu. Anh giận cô. Anh chưa bao giờ thấy hay nghe ai nói xấu về Liên Xô hay các nước Đông Âu tệ đến vậy, trừ trên báo chí bảo thủ ở Iceland. Anh biết rõ sức mạnh của bộ máy tuyên truyền phương Tây; nó vận hành hiệu quả ngay tại Iceland, và anh thừa nhận rằng, một phần cũng vì thế, cần phải hạn chế tự do ngôn luận và tự do báo chí ở các nước Đông Âu. Điều đó với anh là dễ hiểu trong giai đoạn xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa trên đống đổ nát của Thế chiến thứ hai. Anh chưa bao giờ coi đó là sự tha hóa tư tưởng.

- Mình đừng cãi nhau nữa, - cô nói.

- Ừ, - anh đồng ý, đặt một đồng xu lên bàn. - Mình đi thôi.

Khi bước ra khỏi quán, Ilona khẽ véo anh. Anh nhìn cô. Cô ra hiệu bằng mắt điều gì đó, rồi gật đầu ra vẻ hiểu ý.

- Ông ta ở đằng kia kìa, - cô thì thầm.

Anh nhìn theo hướng cô chỉ, thấy người đàn ông mà Ilona nghi ngờ đang theo dõi mình. Ông ta ngồi đó, mặc áo mưa, uống bia như thể chẳng biết đến sự tồn tại của họ. Đúng là người họ từng thấy trước nhà thờ Thánh Thomas.

- Để anh ra nói chuyện với ông ta, - Tomas đề nghị.

- Không, - Ilona đáp. - Đừng làm vậy. Mình đi thôi.

Vài ngày sau, thấy Hannes ngồi ở bàn học trong thư viện, anh đến ngồi cạnh. Thay vì ngước lên, Hannes vẫn tiếp tục ghi chép bằng bút chì vào sổ tay.

- Sao rồi, cô ấy làm cậu điên đầu à? - Hannes hỏi mà không ngừng viết.

- Ai cơ?

- Ilona.

- Anh biết Ilona à?

- Tôi biết cô ấy là ai, - Hannes đáp, ngước mắt lên. Anh ấy quàng một chiếc khăn dày, đeo găng tay hở ngón.

- Anh biết chuyện của bọn tôi à? - Tomas hỏi.

- Chuyện gì rồi cũng lộ ra hết, - Hannes đáp. - Ilona là người Hungary, nên cô ấy không ngây thơ như bọn mình đâu.

- Ý anh là sao?

- Bỏ đi, - Hannes đáp, lại cúi xuống ghi chép.

Tomas cúi người qua bàn định giật lấy quyển sổ. Hannes nhìn anh ngạc nhiên, cố giằng lại nhưng không được.

- Có chuyện gì vậy? - anh hỏi. - Sao anh cư xử kỳ lạ vậy?

Hannes liếc nhìn quyển sổ trong tay Tomas, rồi nhìn thẳng vào anh.

- Tôi không muốn dính vào chuyện gì đang xảy ra ở đây cả, tôi chỉ muốn về nước, quên hết chuyện này đi, - anh nói. - Đây là một chuyện hết sức phi lý. Tôi đã chán ngấy rồi, dù tôi ở đây chưa lâu bằng cậu.

- Nhưng anh vẫn còn ở đây mà.

- Đây là một trường đại học tốt. Tôi mất khá lâu mới nhìn ra được hết cái sự dối trá này, rồi mới nổi loạn.

- Tôi không thấy được điều gì vậy? - anh hỏi, e sợ câu trả lời. - Anh đã nhìn ra được điều gì? Tôi đang bỏ lỡ cái gì vậy?

Hannes nhìn thẳng vào mắt anh, đưa mắt quét khắp thư viện, rồi nhìn lại quyển sổ mà Tomas vẫn còn giơ cao trên đầu, rồi lại nhìn vào mắt anh.

- Cứ tiếp tục đi, - anh ấy đáp. - Cứ giữ vững niềm tin của cậu. Đừng lạc đường. Tin tôi đi, cậu chẳng được gì đâu. Nếu cậu thấy thoải mái với tất cả những chuyện này, thì chẳng có vấn đề gì cả. Đừng đào sâu thêm nữa. Cậu không biết mình có thể phát hiện ra điều gì đâu.

Hannes đưa tay lấy lại quyển sổ.

- Tin tôi đi, - anh ấy nói tiếp, - quên hết chuyện này đi.

Tomas đưa trả lại cho anh.

- Còn Ilona thì sao? - anh hỏi.

- Quên cô ấy đi luôn, - Hannes đáp.

- Ý anh là sao?

- Chẳng có gì cả.

- Sao anh lại nói với tôi những chuyện như vậy?

- Để tôi yên, - Hannes lặp lại. - Làm ơn, để tôi yên.

Ba ngày sau, anh ở trong một khu rừng bên ngoài thành phố. Anh cùng Emil đã đăng ký vào Hội Thể thao Kỹ thuật. Đây là một hội đa năng, tổ chức đủ loại môn thể thao, từ cưỡi ngựa đến đua xe. Sinh viên được khuyến khích tham gia lao động tập thể và công tác tình nguyện dưới sự bảo trợ của FDJ. Công việc này gồm một tuần tham gia thu hoạch mùa thu, một ngày mỗi học kỳ dọn dẹp đống đổ nát, khai thác than hoặc các hoạt động khác. Ai cũng có quyền từ chối, nhưng người từ chối sẽ luôn có một lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu.

Anh suy nghĩ về cái tổ chức này, đứng trong rừng cùng Emil và vài người bạn khác, chuẩn bị trải qua một tuần ngoài trời, mà thực chất chủ yếu là huấn luyện quân sự.

Cuộc sống ở Leipzig là vậy đó. Vẻ ngoài thường đánh lừa người ta. Sinh viên nước ngoài bị theo dõi, phải cẩn thận không nói công khai điều gì có thể làm phật lòng nước chủ nhà. Người ta truyền bá các giá trị xã hội chủ nghĩa cho họ trong những buổi họp bắt buộc. Còn công tác “tình nguyện” thì cũng chỉ tình nguyện trên danh nghĩa mà thôi.

Dần dà, họ cũng quen với tất cả những điều mà họ gọi là phi lý ấy. Riêng anh, anh tin rằng tình trạng này chỉ là tạm thời. Những người khác thì không lạc quan như vậy. Anh từng cười thầm khi phát hiện ra cái hội thể thao kỹ thuật kia thực chất chỉ là một trung đoàn quân đội trá hình. Emil thì chẳng thấy chuyện đó buồn cười chút nào. Cậu không thấy có gì đáng cười ở đây cả, và khác với những người khác, cậu chưa bao giờ nói về những chuyện phi lý ấy. Cậu chẳng thấy gì đáng cười ở Leipzig cả.

Đêm đầu tiên nằm trong lều cùng đám bạn, Emil dành cả buổi tối say sưa nói về sự ra đời của một nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Iceland.

- Bao nhiêu bất công như vậy trong một đất nước nhỏ bé, nơi mọi người có thể dễ dàng bình đẳng với nhau biết bao, - cậu tuyên bố. - Tôi muốn thay đổi điều đó.

- Cậu muốn một nhà nước xã hội chủ nghĩa như ở đây à?

- Sao lại không?

- Với tất cả những gì đi kèm? Sự giám sát? Nỗi hoang tưởng? Kiểm duyệt? Những chuyện phi lý?

- Này, cô ấy bắt đầu thuyết phục được cậu rồi à?

- Ai cơ?

- Ilona.

- Ý cậu là sao? Thuyết phục tôi chuyện gì?

- Chẳng gì cả.

- Cậu biết Ilona à?

- Chẳng biết gì cả, - Emil đáp.

- Chính cậu cũng theo đuổi bao nhiêu cô gái đó thôi. Hrafnhildur có kể tôi nghe một trong mấy “chiến tích” của cậu ở Tu viện Đỏ đấy.

- Chẳng có gì quan trọng đâu, - Emil đáp.

- Ừ, đúng vậy.

- Hôm nào cậu kể tôi nghe thêm về Ilona đó nhé, - Emil gợi ý.

- Cô ấy không chính thống như bọn mình đâu. Cô ấy nhìn ra nhiều chỗ trục trặc trong hệ thống này, muốn sửa chữa chúng. Ở đây y hệt như Hungary vậy, chỉ khác là bên đó thanh niên đứng lên hành động. Họ đấu tranh chống lại những chuyện phi lý.

- Chống lại những chuyện phi lý! - Emil quát lên. - Chuyện vớ vẩn chết tiệt! Cứ nhìn xem người dân quê mình sống ra sao. Họ co ro trong mấy cái hầm trú ẩn của quân đội Mỹ. Trẻ con chết đói. Cha mẹ chẳng đủ tiền mua quần áo cho con mặc. Trong khi đó, một tầng lớp thượng lưu đã béo bở sẵn cứ tiếp tục béo thêm mãi. Cậu không gọi đó là phi lý sao? Có sao đâu nếu phải giám sát dân chúng một chút, hạn chế tự do ngôn luận tạm thời? Ở đây, người ta đang cố xóa bỏ bất công. Chuyện đó cần hy sinh, thì đã sao?

Cả hai im lặng. Sự im lặng bao trùm khắp các lều trại. Trời tối đen.

- Tôi sẽ làm bất cứ điều gì cho cuộc cách mạng Iceland, - Emil kết luận. - Bất cứ điều gì để bẻ gãy sự bất công.

Đứng bên cửa sổ, anh nhìn ánh nắng len qua những khoảng trống trên bầu trời. Đằng xa, có thể thấy một cầu vồng. Anh cười thầm khi nhớ lại cái hội thể thao kỳ lạ kia. Anh thấy rõ trước mắt gương mặt Ilona rạng rỡ nụ cười trong đêm ăn cừu hun khói, nghĩ đến nụ hôn ấy, thứ vị ngọt vẫn còn vương trên môi anh; anh nghĩ đến ngôi sao tình yêu và chàng trai buồn bã nơi đáy thung lũng.