Hiển thị các bài đăng có nhãn Bút ký du hành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bút ký du hành. Hiển thị tất cả bài đăng

5 tháng 4, 2024

Vãng Cảnh Normandie


Vãng Cảnh Normandie
(Cho 2 ngày 31/03 & 01/04 vừa qua)

Hai ngày nghỉ lễ ruổi rong chơi
Cảng Dieppe, Tréport lúc đẹp trời
Hít khí trong lành bay tứ ngõ
Xem dòng tĩnh lặng trải ngàn khơi
Lê la góc phố chiều buông thả
Ngắm nghía đường đê cảnh gọi mời
Hạnh phúc vui đùa bên bạn hữu
Quên vèo nhịp sống chuốc mòn hơi

Việt Đường
(05/04/2024)

8 tháng 2, 2024

Dọn Gác


Dọn Gác

Ba ngày lúi húi dọn đồ xưa
Ném bỏ dần đi những vật thừa
Sách vở, áo quần.. gom đã mệt
Phim hình, báo đĩa.. soát còn bưa
Thùng cao dỡ sạch vơi tăm tối
Giỏ gộc thồn căng dứt bộn bừa
Nghỉ việc khoanh tay nhìn gác nhỏ
Chỉnh tề thu xếp bụng càng ưa

Việt Đường
(08/02/2024) 

29 tháng 11, 2023

KÍNH TIỄN BIỆT HOÀ THƯỢNG THÍCH TUỆ SĨ


KÍNH TIỄN BIỆT HOÀ THƯỢNG THÍCH TUỆ SĨ

KÍNH cẩn nghiêng đầu thắp nén nhang
TIỄN ai vừa khuất nẻo sen vàng
BIỆT ly ức dặm trời thương phố
HOÀ hiệp muôn trùng sóng lạc giang
THƯỢNG vị uy nghiêm bày lớp lớp
THÍCH danh uyên bác tụng hàng hàng 
TUỆ tâm trong sáng nào phai nhạt
khí ngàn đời mãi vọng vang

Việt Đường
(29/11/2023)

Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 15-2-1943 theo khai sanh (gia đình khai tăng tuổi để thầy đi học), tuổi thật sinh ngày 05 tháng 4 năm 1945 (nhằm ngày 23 tháng 02 năm Ất dậu), tại tỉnh Paksé, Lào; Thân phụ: Cụ ông Phạm Văn Phận, Pháp danh Trung Thảo, Thân mẫu: Cụ bà Đặng Thị Chín, Pháp danh Diệu Chánh, Đồng nguyên quán xã Nghĩa Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình, Trung phần Việt Nam.

Thuở nhỏ Thầy thường được theo mẹ đi chùa làng gần nhà, là nhân duyên để đến lúc Thầy chỉ muốn ở chùa không về nhà nữa. Năm 1952, do chạy giặc, Thầy được cha mẹ gởi lên chùa hành điệu hầu sư phụ là Hòa thượng khai sơn chùa Trang Nghiêm, làng Tân An, tỉnh Paksé, Lào. Năm 1954, 9 tuổi, Thầy chính thức được thế phát xuất gia tại chùa này. Đến năm 12 tuổi, vị Trụ trì chùa nhận thấy khả năng và thiên tư đặc biệt của người học trò này, đã khuyên gia đình nên đưa Thầy về Việt Nam để rộng đường tu học. Năm 1960 Thầy trở về Việt Nam, sống xa gia đình tại chùa Bồ đề, một ngôi chùa nhỏ gần cầu Gia Hội, Huế. Hành trang Thầy lúc đó là bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh chữ Hán Thầy luôn giữ bên mình, đến năm 1968 do biến cố Tết Mậu thân mới bị lạc mất ở chùa Từ Đàm, Huế. Chú của Thầy là Hòa thượng Thích Trí Quang, một nhà lãnh đạo nổi danh của Phật Giáo trong thập niên 1960, lúc ấy cũng đang sống tại Huế.

Tuy vậy với bản tính độc lập, Thầy đã một mình giong ruổi qua các địa phương: Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Tiền Giang và các tỉnh miền Nam, tự lập và sống nương nhờ các tự viện lớn nhỏ. Năm 1961, 16 tuổi, Thầy thọ giới Sa-di với Hòa thượng Thích Hành Trụ tại Sài Gòn. Năm này, Thầy thọ an cư Sa-di giới đầu tiên tại chùa Phật Ân, tỉnh Tiền Giang cùng với thầy Trí Minh. Sau cùng Thầy được Hòa thượng (viết tắt là HT) Thích Trí Thủ nhận về thiền viện Quảng Hương Già-lam ở Gò Vấp, Sài Gòn. Thầy tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn năm 1964, học tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, Phân khoa Phật học niên khóa 1965. Với các bài viết về Thế Thân (Vasubandhu), về A-tỳ-đạt-ma câu-xá luận, HT Thích Đức Nhuận là người đầu tiên phát hiện tài năng của người tu sĩ trẻ, đã giới thiệu Thầy vào Viện ĐH Vạn Hạnh. HT Thích Mãn Giác phó Viện trưởng lúc đó đã đề nghị Viện trao bằng Cử nhân cho Thầy, nhưng Thầy xin phép được từ chối.

Thầy được đặc cách bổ nhiệm Giáo sư thực thụ Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1970 nhờ những công trình nghiên cứu Phật học và những khảo luận Triết học có giá trị cao như Đại Cương Về Thiền Quán, do Đại lão HT Thích Đôn Hậu giới thiệu, Liên Hoa ấn quán in 1967, Triết Học về Tánh Không (An Tiêm xuất bản, Saigon 1970), v.v… Sau đó Thầy kiêm Xử lý Khoa trưởng Phân khoa Phật học tại Đại học này (niên khóa 1972-1973). Thầy tinh thông chữ Hán, biết nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Lào, Thái, Nhật, Tây Tạng, thông thạo hai cổ ngữ Pali và Sanskrit. Thầy cũng đọc hiểu tiếng Đức, nghiên cứu kỹ về Heidegger và Hoelderlin. Cuốn Thiền Luận nổi tiếng của D.T. Suzuki bản Việt ngữ tập 2 và 3 là do Thầy dịch, in và tái bản nhiều lần từ 1972 đến 1975.

Năm 1973, HT. Thích Trí Thủ thấy Thầy mãi lo việc nghiên cứu và giảng dạy, Ngài đã đốc thúc Thầy chuẩn bị thọ Đại giới Tỳ-kheo, và Sa-di Tuệ Sỹ đã chính thức thọ giới Cụ túc tại Đại giới đàn Phước Huệ tổ chức tại Phật học viện Trung phần, Nha Trang năm 1973, với HT. Đàn đầu Thích Phúc Hộ, HT. Yết-ma Thích Giác Tánh, Giáo thọ sư HT. Thích Trí Nghiêm, Thích Huệ Hưng.

HT. Tuệ Sỹ không chỉ uyên bác về Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa, Thầy còn tinh thông triết học Tây phương, văn chương, thơ, âm nhạc. HT nghiên cứu thẳng từ nguyên tác của các văn nhân, thi sĩ nổi tiếng của Trung quốc như Tô Đông Pha, Lý Hạ, Đỗ Phủ… Ngoài những khảo luận Triết học và Phật học, HT đã viết tác phẩm đầy thi vị: ‘Tô Đông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng’ (Ca Dao xb, Sài Gòn, 1973). Về âm nhạc, HT chơi đàn guitar, violon, piano, thổi sáo. Thầy tìm hiểu âm nhạc dân tộc, lại rất am tường nhạc cổ điển Tây phương. HT làm nhiều thơ, viết một số truyện ngắn và các tiểu luận triết học, phê bình văn học đặc sắc, phần lớn đăng trên các tạp chí Khởi Hành (1969-1972) và Thời Tập (1973-1975) tại Sài Gòn. Đồng thời HT cũng là Tổng thư ký tòa soạn Tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Tập thơ đặc sắc bằng chữ Hán, ‘Ngục trung mị ngữ’ được HT làm trong tù sau năm 1975, và các tập thơ ‘Giấc mơ Trường sơn’, ‘Những điệp khúc cho dương cầm’, ‘Thiên lý độc hành’ sau này đã được dịch ra Anh, Pháp, Nhật ngữ, phát hành rộng rãi tại hải ngoại.

Từ trẻ HT đã thuộc lòng các bộ Kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Thắng Man, Duy-ma- cật… Duy-ma-cật sở thuyết là bộ kinh nêu cao tinh thần sống đạo mà chẳng cần y áo hay sự suy tôn kiểu cách. Có thể nói, tư tưởng Bồ-tát đạo trong kinh này và bộ kinh Pháp Hoa đã ảnh hưởng suốt cuộc đời tu học và hành Đạo của Thầy. Với kiến thức Phật Học uyên thâm, HT đã viết giảng luận “Huyền thoại Duy-ma-cật”, và đi theo hình mẫu lý tưởng này, HT đã không ngại dấn thân phụng sự, và ngài đã trở thành biểu tượng của sự đấu tranh ôn hòa cho các giá trị nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Năm 1973 HT về Nha Trang làm Giám học Phật học viện Trung phần (tức Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức), do HT Thích Trí Thủ làm Giám Viện.

Năm 1975, HT Tuệ Sỹ đang phụ trách giảng dạy tại Phật học viện Trung phần, Nha Trang. Sau biến cố 30/4/1975, cơ sở này bị đóng cửa, HT về ẩn cư tại một miếng rẫy chùa ở ven rừng Vạn Giã, cách Nha Trang chừng 60 km.

Đến năm 1977, HT vào Sài Gòn lánh nạn ở chùa Tập Thành quận Bình Thạnh. Năm 1978, HT bị nhà cầm quyền bắt giam 3 năm không xét xử (tội cư trú bất hợp pháp), cuối năm 1980 thì được phóng thích.

Do hoàn cảnh mấy năm lang thang và ở tù, nhận thấy giới thể bị ảnh hưởng, có thể không thanh tịnh, HT được thọ lại Đại giới Cụ túc tại Quảng Hương Già-lam năm 1982 do HT. Thích Trí Thủ làm đàn đầu, HT. Thích Trí Quang làm tôn chứng, HT. Thích Trí Tịnh làm tuyên luật sư.

Từ năm 1980 đến 1984, HT làm Giáo thọ sư cho khóa đào tạo đặc biệt tại Tu Viện Quảng Hương Già-lam do Trưởng Lão HT Thích Trí Thủ làm Giám Viện.

Tháng 4/1984, HT lại bị bắt cùng Giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát và 17 tăng ni, cư sĩ Phật tử. Trong phiên tòa kéo dài nhiều ngày vào cuối tháng 9 năm 1988, không chấp nhận luật sư chỉ định biện hộ mà hai thầy tự biện hộ cho mình, nhà cầm quyền đã kết án TỬ HÌNH hai Thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu vì tội “âm mưu lật đổ chính quyền”.

Do sự tranh đấu tích cực của các nhân sĩ trong và ngoài nước, cùng sự can thiệp của các cơ quan nhân quyền quốc tế, Hà Nội phải vội vã giảm án hai Thầy xuống còn 20 năm khổ sai, đem giam HT tại Xuân Lộc, Đồng Nai, sau đó chuyển riêng HT ra trại A-20 tỉnh Phú Yên. Tháng 10/1994, với sự phản kháng trong tù, HT bị nhà cầm quyền tách đưa ra trại giam Ba sao, miền Bắc. Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã được Tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng tranh đấu nhân quyền (Hellman-Hammett Awards) cùng với 7 nhà đấu tranh khác vào ngày 03/8/1998.

Năm 1998, Hà Nội trả tự do cho Hòa thượng, cùng với một số người khác. Trước đó, HT đã tuyệt thực trong tù. Vì trước khi thả, nhà cầm quyền áp lực buộc HT ký vào lá đơn gửi ông Chủ tịch nước “xin khoan hồng”, HT đã trả lời nội dung: “Chúng tôi đã không công nhận giá trị của phiên tòa này, tính pháp lý của bản án này, các ông không có quyền giam giữ chúng tôi thì sao lại có quyền khoan hồng hay ân xá chúng tôi.” Công an thuyết phục: không viết đơn thì không có lý do để thả được. HT đã khẳng khái đáp: “Đó là việc của các ông; nhưng nếu các ông cứ áp lực buộc chúng tôi ký đơn, tôi sẽ tuyệt thực phản đối.” Và Hà Nội đã phải trả tự do cho HT vào ngày 01/9/1998, sau 10 ngày Thầy không ăn và tiếp theo cả không uống, tổng cộng 14 ngày. Hòa thượng Tuệ Sỹ tuyệt thực một mình, không có tổ chức, bên ngoài không biết. Thấy sức khoẻ HT suy sụp nhanh chóng, chính quyền đã vội đưa bác sĩ vào xin điều trị, và đưa Thầy ra khỏi trại giam.

Ngày 02/9/1998, lúc 10 giờ 45, Hòa thượng Tuệ Sỹ được đưa lên xe lửa về Nam. Ngồi suốt 36 tiếng đồng hồ trên xe với sức khỏe rất yếu sau khi tuyệt thực trong tù, HT không chịu nổi nên được đưa xuống ga Nha Trang, về tạm ở Phật học viện Hải Đức. Ít lâu sau công an lại ra lệnh HT phải về chùa Già Lam ở Sài-gòn, không được phép ở Nha Trang. Hòa thượng từ chối, viết một lá thư gửi cho nhà cầm quyền, nói “một là tôi tự do ở đâu tôi muốn, hai là vào tù trở lại, chứ mấy ông không thể thả tôi ra khỏi nhà tù nhỏ để nhốt tôi vào nhà tù lớn hơn là cả đất nước này”. Tin này lập tức được loan truyền trên báo chí hải ngoại thời đó.

Trước sau, Hòa thượng đã lãnh một án tử hình, 17 năm tù đày và ba lần bị quản thúc, trải qua các nhà tù khắc nghiệt khắp nam trung bắc. Tuy nhiên điều đó vẫn không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn, và vẫn giữ được lòng thanh thản bao dung không chút oán hận của Thầy.

Tháng 4 năm 1999, Hòa thượng Thích Quảng Độ đề cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ làm Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

Năm 2002, với trách nhiệm Đệ Nhất Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là một trong những nhà lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là người đóng góp rất nhiều cùng với nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ trong công cuộc đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhất là quyền phục hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Những lời tuyên bố của người tù lương tâm tôn giáo Thích Tuệ Sỹ tại tòa án, cũng như khí phách kiên cường lúc trong tù, là tấm gương sáng, là niềm tự hào của Phật giáo và của dân tộc: “Lập trường của chúng tôi là lập trường của Phật giáo, là lập trường của toàn khối dân tộc.” Đối với Hòa thượng Tuệ Sỹ, sức mạnh của Phật giáo không phải là Chính trị, mà là Văn hóa và Xã hội, trong đó Giáo dục có vai trò rất quan trọng. Nhưng công cuộc giáo dục này phải do Giáo hội độc lập đề ra, không thể chịu sự kiểm soát hay áp đặt của bất cứ thế lực nào, thì mới mong đào tạo ra những thế hệ tăng ni có tài đức để phụng sự xã hội, xứng danh trong hàng Tăng Bảo.

Tiếp đến, đầu tháng 3/2003, Hòa thượng Tuệ Sỹ khâm lệnh Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, từ nơi bị quản thúc tại Quảng Hương Già-lam, Thầy đã tháp tùng Hòa thượng Thích Huyền Quang ra Hà Nội chữa bệnh và chuẩn bị gặp Thủ tướng đương thời là ông Phan Văn Khải, để yêu cầu ngài Thủ tướng giải quyết việc đã đình chỉ sinh hoạt của GHPGVNTN từ sau năm 1975, cũng như sự cấm đoán, quản chế không xét xử bản thân Hòa thượng cùng với HT. Thích Quảng Độ và một số Tăng ni, Phật tử khác. Trong dịp này, đại diện ngoại giao của 6 nước thành viên Khối Liên Âu và Hoa Kỳ tại Hà Nội đã chủ động tìm gặp Hòa thượng Tuệ Sỹ, mời Hòa thượng đến thăm, làm việc tại trụ sở ngoại giao của phái bộ Liên Âu ở Hà Nội. Họ đón Hòa thượng đi một mình, không có thị giả, người phiên dịch.

Ngày 01/10/2003, Hòa thượng đã cùng nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ tổ chức Đại hội bất thường GHPGVNTN tại Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Sau Đại hội này, hai vị Đại lão Hòa thượng cũng như Hòa thượng Tuệ Sỹ và một số Tăng ni tham dự đã bị nhà cầm quyền quản chế mỗi người một nơi, giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên với tinh thần ‘uy vũ bất năng khuất’, Hòa thượng đã sát cánh cùng nhị vị HT Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ ủy thác cho các GHPGVNTN Hải ngoại tổ chức Đại hội bất thường GHPGVNTN tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu trong cùng năm 2003. Chính Đại hội này đã công bố đầy đủ nhân sự lãnh đạo Giáo hội trong nước và hải ngoại, và toàn thể Tăng ni Phật tử đã suy tôn Đại lão HT Thích Huyền Quang lên ngôi vị Đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN.

Năm 2008, đức Đệ Tứ Tăng thống GHPGVNTN Thích Huyền Quang viên tịch. Ngôi vị được trao lại cho Đại lão HT Thích Quảng Độ truyền thừa, là Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN.

Từ đây, Hòa thượng Tuệ Sỹ được yên tâm dành hết thời gian và sức lực cho công việc trước tác, phiên dịch Phật ngôn, và đào tạo từng nhóm tăng ni đủ trình độ nghiên cứu Phật học, phiên dịch kinh điển sau này. Trong thời gian này HT đã hoàn thành phiên dịch, hiệu đính 4 bộ kinh A-hàm, kinh Duy-ma-cật sở thuyết, bộ Luật Tứ phần, các bộ Luận Thành Duy Thức, A-tì-đạt-ma Câu-xá, và nhiều trước tác khác…

Tháng 03/ 2019, Đại lão HT Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN dự tri thời chí, biết sức khỏe không còn nhiều, Ngài đã mời HT Thích Tuệ Sỹ đến gặp tại chùa Từ Hiếu, quận 8, Sài Gòn để phú chúc di ngôn và ấn tín của Viện Tăng thống GHPGVNTN, ủy nhiệm Hòa thượng Tuệ Sỹ lãnh đạo, xử lý thường vụ Viện Tăng thống sau khi Ngài viên tịch.

Đến tháng 02/2020 Đại lão HT Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN thuận thế vô thường, an nhiên thị tịch tại chùa Từ Hiếu. Lúc này, HT Thích Tuệ Sỹ đang chữa trọng bệnh tại Nhật Bản và bị mắc kẹt tại đây do đại dịch Covid, không thể về nước.

Tháng 10/2020 ngay khi có lại các chuyến bay thương mại, Hòa thượng là một trong số người đầu tiên về nước, dù lúc đó các bác sĩ Nhật Bản khuyên nên ở lại chữa trị, nếu không thì cuộc sống không thể kéo dài quá 6 tháng.

Qua năm 2021, đại dịch Covid bùng phát trở lại ở châu Á trong đó có Việt Nam, mà nặng nhất là Sài-gòn. Với sự phong tỏa chống dịch nghiêm ngặt của chính quyền, mọi dịch vụ y tế lúc đó bị đình trệ ngoại trừ việc chữa bệnh Covid, tuy nhiên Hòa thượng vẫn kiên trì mạnh mẽ chống chọi cơn bạo bệnh để hàng ngày vẫn ngồi bên bàn dịch Kinh, hiệu đính các tác phẩm, tổ chức sắp xếp thư mục cho công trình phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn học thuật quốc tế.

Tháng 11/2021 Ngài chủ trì Đại hội lần thứ nhất của Hội đồng Hoằng pháp, quyết định thành lập Hội đồng Phiên dịch Tam tạng Lâm thời để kế thừa Hội đồng Phiên dịch Tam tạng do chư tôn Trưởng lão Hội đồng Giáo phẩm Trung ương – Viện Tăng thống GHPGVNTN đã thành lập từ năm 1973 nhưng sau đó bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều chướng duyên khác.

Ngày 03/12/2021 Hội đồng Phiên dịch Tam tạng Lâm thời chính thức được thành lập theo Thông bạch số 11/VTT/VP. Từ đây, công việc phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa chuyết văn và tổ chức in ấn được đẩy mạnh, thảy thảy đều theo quy củ đã định, để cuối cùng hình thành 29 tập đầu tiên được khởi in trong năm 2022, với công đức dự phần của các bậc Tôn túc cho đến Tăng ni, Phật tử trong và ngoài nước, đặt nền móng cho công trình Đại Tạng Kinh VN chính thức được tiếp nối từ Hội nghị Toàn thể Hội đồng Phiên dịch Tam tạng tháng 10/1973.

Qua năm 2022: Ngày 21/8, tại chùa Phật Ân, Long Thành, Đồng Nai, Hội đồng Giáo phẩm Trung ương GHPGVNTN đã suy cử HT. Thích Tuệ Sỹ đảm nhiệm trách vụ Chánh thư ký kiêm Xử lý thường vụ Viện Tăng Thống.

Tiếp ngày 22/8 tại chùa Từ Hiếu, quận 8, Sài-gòn, đã cử hành lễ truyền trao ấn tín và khai ấn Viện Tăng Thống cho Hòa thượng.

Từ đó, Hòa thượng đã dành hết thời gian và sức khỏe còn lại để chuyên tâm phiên dịch kinh tạng, hiệu đính, chứng nghĩa cho các dịch phẩm của hàng hậu bối.

Những ngày cuối đời, từ giường bệnh, Hòa thượng đã cẩn thận sắp xếp, dặn dò những việc cần làm của GHPGVNTN cũng như công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam cho các Hội đồng, sau đó đã thuận thế vô thường thâu thần thị tịch tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam, vào lúc 16:00 giờ, ngày 24 tháng 11 năm 2023, nhằm ngày 12 tháng 10 năm Quý Mão, trụ thế 79 năm, 46 giới lạp.

Sự ra đi của Hòa thượng không chỉ là mất mát lớn lao của GHPGVNTN mà còn là niềm đau chung của Phật giáo Việt Nam, cũng như là sự khuất bóng đáng tiếc của một anh tài tinh hoa Dân tộc; nhưng di sản Văn hóa, Giáo dục to lớn mà Hòa thượng để lại xứng đáng làm tư lương tối thiết cho hành giả và học giả muôn đời sau.

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh tông tứ thập tứ thế, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội, Tăng Thống Viện Chánh Thư Ký Xử lý Thường Vụ, húy thượng NGUYÊN hạ CHỨNG, hiệu TUỆ SỸ, Trưởng lão Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.

Sài Gòn ngày 24/11 năm 2023.
Môn đồ Pháp quyến

Nhiều năm trước AH có duyên gặp và làm bạn cùng phòng với Thầy Tuệ Sĩ, lúc đó Thầy còn ở cấp bậc Đại Đức, và mọi người chỉ gọi thế danh Thầy là Phạm Văn Thương. Tính Thầy rất bình dân, giản dị, không xa cách phân biệt tôn ti đạo với đời, ngay cả tên họ Thầy cũng được đưa ra làm trò đùa mà Thầy vẫn cười xuề xoà vui vẻ (Phạm có nghĩa là tù). Lúc vừa gặp, Thầy đã hỏi AH muốn ăn chay không thì ăn cơm chung với Thầy vì Thầy được chùa và Phật tử thăm nuôi tiếp tế thức ăn đầy đủ. Thầy bảo AH đừng ngại vì Thầy cũng đã từng làm vậy với nhiều người trước đó. Thầy lại chỉ dùng 1 bữa Ngọ trai và dành tất cả cơm chiều cho AH. Trước khi ăn, Thầy dành vài phút để tụng niệm. Trong phòng rất rảnh rỗi nên ngoài những lúc được gọi lên làm việc thì thời gian mọi người chỉ dùng để đánh cờ và kể chuyện. AH được biết Thầy học nhiều ngoại ngữ kể cả tiếng Phạn và từng giảng dạy ở Viện Đại học Vạn Hạnh. Vốn tính ham học hỏi Thầy đề nghị trao đổi kiến thức với AH và một anh kỹ sư điện tử. Thầy dạy tiếng Đức, anh kỹ sư dạy điện tử và AH dạy hoá học. Thời gian gần một tháng thì AH bị chuyển đi, sau này chỉ nghe tin là Thầy Tuệ Sĩ cùng Thượng toạ Thích Trí Siêu bị tuyên án tử hình, rồi đổi thành khổ sai chung thân. Từ đó AH không còn biết tin tức gì về Thầy nữa. Hôm nay bàng hoàng hay tin Thầy viên tịch, xin hoạ với anh VĐ một bài để tỏ lòng thành kính tri ân Thầy.

ĐAU XÓT TIẾC THƯƠNG THẦY TUỆ SĨ
 
ĐAU lòng khắp chốn ngập mùi nhang
XÓT ngả về Tây ánh đạo vàng
TIẾC nghiệp đương chừng qua khổ hải
THƯƠNG đời chưa độ vượt mê giang
THẦY rời dương thế ân ghi dạ
TUỆ phát chân tâm lệ nhỏ hàng
tiết muôn người truyền hậu đại
CƠM NHƯỜNG TÌNH NẶNG TIẾNG CÒN VANG

Ái Hoa

6 tháng 7, 2023

Rimini, Đến Hẹn Lại Đi


Rimini, Đến Hẹn Lại Đi

Cuối tuần lại ghé Rimini
Cứ mỗi mùa sang tới hạn kỳ
Viếng mảnh trời trong, xanh diệu vợi
Thăm vùng biển ấm, đẹp mê ly
Chiều lên dạo gót rồi bơi lả
Nắng xuống phơi lưng đoạn ngủ khì
Đánh vợt, làm thơ hay đọc sách
Chương trình đã vạch ngóng chờ khi..

Việt Đường
(06/07/2023)

11 tháng 8, 2022


Ngắm Bình Minh Trên Biển Igea Marina

Lồm cồm thức dậy lúc tinh mơ
Bước lại ban công háo hức chờ
Ngắm mặt trời lên đầy gợi cảm
Xem dòng nước chảy thật nên thơ
Lao xao gió mát vờn êm ả
Thấp thoáng tàu xa lướt hững hờ
Cảnh vật trùng dương huyền ảo quá
Cho hồn thi sĩ dậy vu vơ

Việt Đường
(11/08/2022)

4 tháng 9, 2021

Tâm Nguyện Quê Hương Mùa Dịch

 

Hôm 20/08, qua Messenger, chị PTPL có chia sẻ cho nghe bài "Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta" do ca sĩ Lệ Thu trình bày. Nghe hết bài, cảm xúc chợt dâng trào, mình liền tức tốc viết lời mới ngay cho ca khúc này. Cặm cụi thảo và chỉnh sửa liên tục mỗi khi rảnh rỗi sau giờ làm việc hàng ngày cho mãi đến 9 ngày sau mình mới khá vừa ý với ca từ biên soạn. Hai người đầu tiên mà mình đem chia sẻ tất nhiên là chị mình và La Phụng Tiên, người đã bỏ nhiều công sức hoàn toàn miễn phí để tìm kiếm hình ảnh cũng như thực hiện các kỹ thuật lắp ráp để hoàn thành karaoke video cho 3 trên 4 ca khúc mà mình đã viết trong thời gian vừa qua. Vài ngày sau, mình cũng đã đem chia sẻ cho 2 người bạn/người em thân thiết khác.

Hôm Chủ Nhật 29/08, nhân ghé nhà người bạn dự đám giỗ, trong chương trình nhạc sống (được tổ chức thường lệ sau mỗi lần họp mặt tiệc tùng hoặc cúng kiếng), mình liền đem ra hát thử xem sao : đoạn 1 thì mình hát lời bài "Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta" nhưng sang đoạn 2 thì mình bắt qua ca từ mới. Trong lúc trình bày, đến đoạn giữa của bài, tự nhiên đôi chân mình chợt run bần bật lên vì cảm xúc, mình phải cố gắng giữ bình tĩnh lắm mới không vấp váp để hoàn thành trọn bài.

Hôm nay cuối tuần không đi làm, mới tờ mờ sáng mình đã lần mò thức dậy để hát lại và ghi âm giới thiệu. Mời quý thân hữu ghé xem ca từ mới và nghe thử :

Tâm Nguyện Quê Hương Mùa Dịch
(Cảm tác từ ca khúc "Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta" của Hoàng Thi Thơ) 

Việt Đường trình bày :
Từ karaoke video ở : https://youtu.be/FpS2_uKPLiY



Dịch từ đâu lan về trên muôn ngõ phố
Dịch từ đâu lan về giày xéo quê ta
Dịch từ đâu lan về làm dân nghèo đói
Và dịch triền miên giết chết bao người đang gồng gánh phương xa

Dịch ngày đêm lan tràn gieo bao thảm khốc
Để đường xưa bây giờ quạnh quẽ, cô liêu
Để lòng ai đang sầu càng thêm hờn tủi
Nỗi niềm nào nguôi... cứ mãi tuôn trào trong hẻm vắng liêu xiêu

Nguyện, nguyện cầu... Sài Gòn tang tóc
Rồi... một chiều... dịch sẽ xa bay
Rồi... một chiều... bao khó nhọc sẽ tàn phai
U hoài cách chia và nhiễu nhương... phút chốc trôi đi miệt mài

Dịch ngày đêm tung hoành mong sao dừng bước
Lạy trời cao thương tình cứu rỗi nhân sinh
Lạy trời cao đau lòng nhìn dân đồ thán
Nhiệm mầu chiều nao... giáng xuống dương trần xoa dịu hết điêu linh 

Lạy trời cao đau lòng nhìn dân đồ thán
Nhiệm mầu chiều nao... giáng xuống dương trần xoa dịu hết điêu linh! 

Việt Đường
(29/08/2021)

22 tháng 7, 2021

Từ Ngày Cha Đi Xa

 

Từ Ngày Cha Đi Xa
(Phóng tác từ "Buồn Làm Chi Em Ơi", nhạc Nguyễn Minh Cường) 



Karaoke videos do La Phụng Tiên thực hiện : 

Tông nam

 
Tông nữ


 Từ ngày cha đi xa, chúng con hằng nhớ cha già
Mỗi khi về nhà xưa, tâm hồn lại dâng xót xa
Cha nghe không tiếng buồn rưng rưng ngân canh dài
Như mưa rơi não nề làm buốt giá khung chiều heo may 

Từ ngày cha đi xa, chúng con vẫn ghé thăm Người
Chắt chiu bày hoa quả tỏ lòng thành kính khôn nguôi
Môi lâm râm khấn nguyện cha thong dong cuối trời
Vui số kiếp an bài và nhớ mãi ngày tháng xa vời 

Từ ngày cha đi xa, tiếc thương luôn giữ trong lòng
Dù từ nay âm dương đã cách lìa thành đôi bờ bến
Vì tình cha bao la dẫu xa vẫn đẹp khôn cùng
Và nhiều năm trôi qua luôn khắc lòng hình bóng vô thường 

Từ ngày cha đi xa, thế gian còn lắm u sầu
Nước vẫn chìm dâu bể, dân lành còn gánh khổ đau
Bao oan khiên chẳng ngờ gieo tang thương xuống đời
Gây điêu linh muôn loài và chưa dứt tàn phá địa cầu 

Việt Đường
(22/07/2021)

9 tháng 7, 2018

Rimini, Chiều Hè Lãng Du


Rimini, Chiều Hè Lãng Du

Cảnh vật nên thơ biển hữu tình
Ôm bờ cát mượt trải lung linh
Vi vu gió thổi cờ lay bóng
Phất phới dù che khách ngửa mình
Sóng hát lao xao ngoài viễn ngạn
Mây đùa lướt thướt giữa vô thinh
Nhàn du thưởng ngoạn chiều tươi mát
Ước được triền miên sống thái bình

Việt Đường
(09/07/2018)

15 tháng 4, 2018

Du Ngoạn Cuối Tuần Tại Berck-Sur-Mer


Du Ngoạn Cuối Tuần Tại Berck-Sur-Mer

Chủ Nhật ngao du với bạn bè
Trưa chiều tại biển Berck-sur-mer
Xem diều lộng lẫy vươn trời gió
Sưởi nắng mênh mang trải vỉa hè
Đối mặt dùng cơm thân thiết nhỉ
Chen người chụp ảnh rộn ràng ghê
Sòng bài thử vận vào chơi tí
Đến hẹn bên nhau rảo gót về

Việt Đường
(15/04/2018)

25 tháng 7, 2014

Ngóng Bước Đăng Trình 2014

Ngóng Bước Đăng Trình 2014

Ngóng dịp bên nhau vượt hải hà
Du hành một chuyến Tây Ban Nha
Vài nơi ghé dạo vườn xinh xắn
Ít chỗ rong chơi quán nượp nà
Mặc sức thâu hình quay núi đẹp
Tha hồ lội biển ngắm ghềnh xa
Bù cho bảy tháng làm không nghỉ
Tự lúc ra riêng thử vận là..

Việt Đường
(25/07/2014)

5 tháng 8, 2013

Ngao Du Hòa Lan Cảm Vịnh


Ngao Du Hòa Lan Cảm Vịnh

Xứ sở Hòa Lan đẹp hữu tình
Êm đềm pha lẫn cảnh phồn vinh
Người xe dắt cặp in đường nét
Phố biển song đôi lượn dáng hình
Rực rỡ hoa cười tha thiết đón
Nồng nàn gió quyện lẳng lơ nghinh
Ba ngày khám phá say sưa dạo
Khắc mượt trong tim dấu lộ trình

Lộ trình vạch sẵn mỗi nơi đi
Nối bước chân anh chị bác dì
Viếng xưởng sabot (1) dào dạt lúc
Thăm hàng kaas (2) miệt mài khi
Khuya hăm hở ghé khu đèn đỏ (3)
Sáng luyến lưu xem bến nước kỳ (4)
Cảm giác ra về khoan khoái lạ
Như người vừa trải chuyện mê ly

Việt Đường
(05/08/2013)

(1) guốc mộc, tiếng Pháp
(2) phô-mai, tiếng Hòa Lan
(3) De Wallen/Amsterdam Red Light District
(4) Fort de Roovere

18 tháng 7, 2013

Ngóng Bước Đăng Trình

Ngóng Bước Đăng Trình 2013

Mai này chuẩn bị viếng Hòa Lan
Khấp khởi chờ phen hưởng phúc nhàn
Dạo gót vườn quê khi nắng đổ
Hòa mình phố biển lúc chiều tan
Say sưa tán gẫu bên hàng nước
Nhộn nhịp hò vui giữa tiếng đàn
Bỏ lại sau lưng từng rối rắm
Song hành bạn hữu khắp quan san

Việt Đường
(18/07/2013)


ĐỊA ĐÀNG

Suối mát êm đềm tỏa Ngọc Lan
Trà thơm khẽ nhắp hưởng thanh nhàn
Niềm đau đớn dịu hương hoa ngát
Nỗi khó khăn chìm sóng nước tan
Giọng hát say sưa tình nghệ sĩ
Lời ca réo rắt nhịp cung đàn 
Hoành oanh hứng cảnh, tung tăng múa
Mờ phía chân mây bóng thạch san

Tiểu Lý Phi Đao

23 tháng 7, 2009

Paris Plage Chiều Tháng Bảy

 

Paris Plage Chiều Tháng Bảy


Paris Plage ghé mới chiều qua
Vãn cảnh rong chơi khá nượp nà
Khách rảo trên đường như cá lặn
Người nằm giữa bãi tựa chim sa
Đùa vui trẻ tụ quanh vòi nước
Hóng mát già chen dọc quán phà
Xe đạp, rollers hòa bóng lượn
Yên bình một cõi ngắm gần xa

Gần xa khắp chốn rực tươi màu
Cảnh đẹp và người quấn lấy nhau
Óng ánh dòng soi kìa gốc liễu
Lăn tăn sóng rẽ nọ con tàu
Cờ bay trước ngõ cờ xanh ngát
Nắng lượn bên trời nắng đỏ au
Lững thững vòng quanh đây đó dạo
Nghe tâm nhẹ trút gánh cơ cầu

Việt Đường
(21-23/07/2009)